Thứ bảy, 26/5/2007, 08:31 GMT+7
Chăn đệm Trung Quốc có chất gây ung thư
Các bộ drap, gối giường ngủ, áo quần trẻ em và đồ chơi bằng vải của Trung Quốc có thể khiến người sử dụng tiếp xúc với những hóa chất độc hại gây ung thư, một tờ báo Australia loan tin.
Trong tài liệu do nhật báo Sydney Morning Herald (Australia) thu thập, một loại chăn hiệu Sheridan Indulgence nhập từ Trung Quốc, đang được bày bán rộng rãi trên khắp Australia, có chứa hàm lượng formaldehyde với tỉ lệ cao gấp 10 lần cho phép của các tiêu chuẩn quốc tế.
Cơ quan kiểm tra các sản phẩm len của Australia cho biết hàm lượng formaldehyde có trong mặt hàng này là 2790 ppm (phần triệu).
Đại diện của Sheridan thì khẳng định sản phẩm của họ đã qua kiểm nghiệm và cho đến nay chưa nhận được lời phàn nàn nào từ khách hàng.
Các nhà sản xuất Trung Quốc sử dụng formaldehyde này để làm mềm, chống nhăn và chống co rút các sợi vải nhân tạo dùng trong các bộ drap, gối giường ngủ, áo quần trẻ em và đồ chơi bằng vải. Từ năm 2004, Tổ chức Y tế thế giới liệt kê formaldehyde vào loại hóa chất độc hại đối với sức khỏe con người, có thể gây tác hại cho da và hệ thống hô hấp dù chỉ với một hàm lượng rất thấp cũng như các bệnh về bạch cầu, ung thư phổi...
Trước đó, ngày 22/5, Cục Bảo vệ người tiêu dùng của Liên minh châu Âu đã lên tiếng cảnh báo người tiêu dùng thế giới đang mất lòng tin vào hàng hóa Trung Quốc sau những vụ dược phẩm giả và thức ăn vật nuôi xuất xứ từ nước này làm chết người và thú nuôi ở Panama, Mỹ. Gần đây, Panama lại phát hiện thêm diethylene glycol, hóa chất độc hại, trong mặt hàng kem đánh răng của Trung Quốc.
(Theo Tuổi Trẻ / TTXVN, SMH)
Than ôi, thức ăn và mỹ phẩm Trung Quốc!
Sài Gòn 10 Xưởng Chế Biến Nước Tương Gây Ung Thư
Thức ăn gia súc Trung Quốc nhiễm độc
TQ điều tra kem đánh răng 'độc hại'
samedi 26 mai 2007
vendredi 25 mai 2007
Hiện diện của lính TQ, ... ở Điện Biên năm 1954
Hiện diện của tướng TQ, ... ở Điện Biên năm 1954
đây là bức ảnh chụp tướng Chen Gheng vào năm 1955 khi ông này dc phong là Nguyên Soái Tướng Quân quân đội nhân dân Trung Hoa
Tran Canh
đây là bức ảnh chụp tại Điện Biên năm 1954 , người đứng thứ 2 bên phải qua chính là tướng Chen Gheng

http://antg.cand.com.vn/vi-vn/hosomat/2007/1/60949.cand
Trích:
Trần Canh không những là một trong 10 đại tướng "khai quốc công thần" của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, mà còn là người bạn gần gũi của nhân dân Việt Nam. Ông đã từng có mặt trong Chiến dịch Biên giới (1950), Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và đã được gặp Bác Hồ nhiều lần.
đây là bức ảnh chụp tướng Chen Gheng vào năm 1955 khi ông này dc phong là Nguyên Soái Tướng Quân quân đội nhân dân Trung Hoa
Tran Canhđây là bức ảnh chụp tại Điện Biên năm 1954 , người đứng thứ 2 bên phải qua chính là tướng Chen Gheng

http://antg.cand.com.vn/vi-vn/hosomat/2007/1/60949.cand
Trích:
Trần Canh không những là một trong 10 đại tướng "khai quốc công thần" của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, mà còn là người bạn gần gũi của nhân dân Việt Nam. Ông đã từng có mặt trong Chiến dịch Biên giới (1950), Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và đã được gặp Bác Hồ nhiều lần.
Bản Ghi Nhớ: Chu Ân Lai - Kissinger 1972
Ở Mỹ, sau 30 năm, các tài liệu mật sẽ được giải mật (công bố cho công chúng). Dưới đây là biên bản ghi cuộc gặp gỡ giữa cố vấn an ninh của Tổng Thống Mỹ Henry Kissinger và Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai nhân cuộc viếng thăm Hoa Lục của Tổng Thống Mỹ Richard Nixon năm 1972. Người dịch Trần Bá Hợi, một phi công khu trục của Không Lực VNCH. Ông chuyển dịch 10 trang chót (từ trang 27-37), phần quan trọng liên hệ tới Việt Nam. Theo người dịch, đoạn in đậm chứng tỏ ý định Mỹ muốn bỏ rơi VNCH, do vậy số phận của Nam Việt Nam đã được quyết định từ tháng 6 năm 1972.
Nguồn nguoi-viet.com
Bản Ghi Nhớ
Tòa Bạch Ốc
Hoa Thịnh Ðốn
Tối Mật/Nhậy
Chỉ Ðể Xem Mà Thôi
Bản Ghi Nhớ Cuộc Ðàm Thoại
Những nhân vật tham dự:
Thủ Tướng Chu Ân Lai
Ch'iao Kuan-hua, Phó Tổng Trưởng Ngoại Giao
Chang Wen-Chin, Phụ Tá Tổng Trưởng Ngoại Giao
Tang Wen-sheng, Chao-chu, Thông Dịch Viên
Hai nhân viên ghi chú biên bản
Tiến Sĩ Henry A. Kissinger, Phụ Tá Tổng Thống về An Ninh Quốc Gia
Winston Lord, Nhân Viên Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia
John D. Negroponte, Nhân Viên Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia
Ngày và Giờ: Thứ Ba, ngày 20 tháng 6 năm 1972, 2:05 - 6:05 chiều
Ðịa Ðiểm: Ðại Sảnh Ðường Nhân Dân, Bắc Kinh
Dưới đây là cuộc thương lượng và trả giá giữa Henry A. Kissinger Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Richard M. Nixon và Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai về tương lai VNCH.
Từ trang 27
Tiến Sĩ Kissinger: Ðó không phải là ý định của chúng tôi. Chúng tôi không có ý định thành lập một chế độ công quản - nó đòi hỏi một hoàn cảnh khác thường để chúng tôi thực hiện điều này. Không phải là ý đồ của chúng tôi để tạo ra một chế độ công quản. Chúng tôi thực có ý định tạo dựng một bức tường ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng, dù về chính trị hay là thực thể vật chất. Ðiều khiến chúng tôi quan ngại nhất là khi cường quốc khai thác những xung đột địa phương cho mục đích riêng của họ.
Thủ Tướng Chu: Trong những phản đối của Nga Sô về bản thông cáo giữa chúng tôi với quý quốc hình như họ đặc biệt bày tỏ sự phản đối về nguyên tắc chung: “Không bên nào nên làm bá chủ.” Họ có nghĩ là điều đó nhắm vào họ không?
Tiến Sĩ Kissinger: Họ không nói, nhưng hình như họ nghĩ rằng điều đó có thể nhắm vào họ. Chúng tôi cho rằng nó nhắm vào những quốc gia muốn tạo chế độ công quản. Tôi có một thắc mắc lý thú từ Ấn Ðộ - không biết Thủ Tướng có nghĩ vậy không. Họ nói rằng khi Á Châu - Thái Bình Dương không bao gồm Ấ Ðộ, vậy những gì chúng tôi nói tức là chúng tôi thỏa thuận để Trung Hoa công quản Ấn Ðộ (cười).
Nên tôi nói với họ là không đúng. Tôi mong Thủ Tướng không phật ý.
Thủ Tướng Chu: Ấn Ðộ là một quốc gia hết sức mập mờ. Ðó là một quốc gia rất to lớn. Nhiều khi họ làm ra vẻ một quốc gia lớn, nhưng nhiều khi họ có mặc cảm tự ti.
Tiến Sĩ Kissinger: Họ bị khống chế bởi ngoại bang qua gần hết lịch sử của họ.
Thủ Tướng Chu: Vâng, đó có thể là một trong những nhân tố lịch sử. Và một nhân tố nữa là quá nhiều cạnh tranh vĩ đại trên thế giới.
Bây giờ chúng ta sang tới vấn đề Ðông Dương - Tôi muốn nghe ông trình bày.
Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng có nói ông có vài nhận định muốn nói với tôi. Có lẽ chúng ta nên đổi vị trí để Thủ Tướng phát biểu trước.
Thủ Tướng Chu: Có những vấn đề cần tranh luận, và chúng tôi muốn nghe ông trước để biết giải pháp của ông cho vấn đề.
Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng muốn gợi ý là sau khi nghe tôi trình bày tôi sẽ thuyết phục được khiến mọi tranh luận sẽ biến mất, và sẽ không còn điều gì thêm để Thủ Tướng phải nhận định?
Thủ Tướng Chu: Tôi không có những dự tính đó, nhưng tôi thực sự mong sẽ giảm thiểu được những tranh luận.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi sẽ trình bày sự thẩm định thật vô tư của chúng tôi. Tôi biết không hợp với ý Thủ Tướng, nhưng tôi nghĩ dù sao nó cũng ích lợi để Thủ Tướng hiểu quan điểm của chúng tôi về hiện tình. Và tôi sẽ trình bày tình hình từ khi Bắc Việt bắt đầu vụ tấn công ngày 30 tháng 3.
Tôi tin rằng tôi đã giải thích vói Thủ Tướng những mục tiêu tổng quát của chúng tôi ở Ðông Dương. Hiển nhiên không phải mục tiêu của chính phủ này là sẽ duy trì vĩnh viễn những căn cứ tại Ðông Dương hoặc tiếp tục chính sách khởi xướng bởi vị tổng trưởng ngoại giao đã từ chối bắt tay Thủ Tướng. Không phải như vậy... chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử khác. Chúng tôi tin rằng tương lai quan hệ của chúng tôi với Bắc Kinh quan trọng vô biên cho tương lai của Á Châu hơn là những gì xảy ra tại Phnom Penh, tại Hà Nội hoặc ở Sài gòn.
Chắc Thủ Tướng còn nhớ khi Tổng Thống Johnson đưa quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam ông biện minh rằng vì một phần những gì xảy ra tại Ðông Dương đã được kế hoạch tại Bắc Kinh và là một phần của âm mưu thôn tính toàn cầu. Dean Rusk đã diễn đạt như vậy trong một bản tuyên bố. Rồi quý quốc tiến hành cuộc Cách Mạng Văn Hóa và không, với những gì tôi đọc, nhấn mạnh đến phiêu lưu ra ngoại bang.
Với thực tế chúng ta đang ngồi họp trong phòng này đủ thay đổi nền tảng mục đích của cuộc can thiệp đầu tiên tại Ðông Dương. Là người thừa hưởng cuộc chiến vấn đề của chúng tôi là tìm cách thanh toán nó với một phương thức không ảnh hưởng đến uy tín toàn cầu của chúng tôi và - đây không phải là mối quan tâm chính của Thủ Tướng - để ổn định nội bộ tại Hoa Kỳ. Nên chúng tôi đã chân thành cố gắng để chấm dứt chiến tranh, và Thủ Tướng có thể biết hoặc không biết, tôi đã đích thân khởi xướng thương lượng với Bắc Việt năm 1967 khi tôi còn ở ngoại biên của chính quyền khi không được quần chúng ưa thích, vì tôi tin rằng phải có một giải pháp chính trị để chấm dứt cuộc chiến.
Rồi từ khi chúng tôi nắm chính quyền chúng tôi đã cố gắng chấm dứt cuộc chiến. Và chúng tôi hiểu, như tôi đã thưa với Thủ Tướng trước đây là, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nhân tố vĩnh viễn trên bán đảo Ðông Dương và có thể là một thực thể mạnh nhất. Và chúng tôi đã không có ý định tiêu diệt họ hoặc ngay cả đánh bại họ. Sau khi chiến tranh chấm dứt chúng tôi sẽ triệt thoái xa 12 ngàn dậm. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn chỉ cách Sài gòn 300 dậm.
Ðó là một thực tế mà họ có vẻ không hiểu.
Thủ Tướng Chu: Ðiều mà họ quan tâm tới là vụ gọi là Việt Nam Hóa chiến tranh của quý quốc.
Tiến Sĩ Kissinger: Nhưng họ có một sự thiếu tự tin kỳ lạ. Chúng tôi đã cố gắng làm gì? Chúng ta hãy quên... họ là bậc thầy về phân tích những điểm khác nhau nhưng quên những khái niệm toàn bộ. Chúng tôi đã cố gắng tách rời hậu quả quân sự ra khỏi hậu quả chính trị để rút ra khỏi vùng và để những thế lực địa phương tự xếp đặt tương lai của họ. Thật rất kỳ lạ, phía Bắc Việt đã cố níu chúng tôi ở lại để chúng tôi giải quyết vấn đề chính trị cho họ. Thí dụ như ngày 30 tháng 5 vừa qua, chúng tôi đã đề nghị là chúng tôi sẽ triệt thoái tất cả lực lượng nếu có sự ngưng bắn và hoàn trả các tù binh. Ðúng là ngày 31, không phải 30. Phía Bắc Việt sẽ ở đâu ngày hôm nay nếu họ đã chấp thuận dề nghị này. Tại sao? Vì họ muốn chúng tôi lật đổ chính quyền và đặt để chính quyền của họ vào. Chúng tôi không thương lượng. Tôi cố gắng giải thích điều chúng tôi suy nghĩ. Hậu quả thực tế của những đề nghị của chúng tôi vẫn là để chúng tôi triệt thoái; hậu quả thực tế của những đề nghị của họ là giữ chúng tôi ở lại.
Họ có hỏi chúng tôi và có một đòi hỏi họ đưa ra mà chúng tôi đã không đáp ứng, không thể đáp ứng và sẽ không đáp ứng, dù phải trả với giá nào với những quan hệ khác, và đó là chúng tôi lật đổ những nhân vật chúng tôi vẫn thường giao thiệp và cũng là những người tin tưởng ở chúng tôi, đã có một hành động nào đó. Ðây không phải là sự ưa thích cá nhân của một nhân vật nào đó đối với những nhân vật liên hệ. Không phải vì chúng tôi muốn có một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn. Tại sao chúng tôi lại muốn một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn khi chúng tôi có thể sống với những chính quyền không thân Mỹ tại các quốc giato lớn hơn nhiều ở Á Châu? Vì rằng một quốc gia không thể bị đòi hỏi để ràng buộc vào một hành động phản bội to lớn và coi đó như một nền tảng của chính sách đối ngoại.
Thủ Tướng Chu: Ông nói triệt thoái những lực lượng. Ông muốn nói triệt thoái toàn bộ Lục quân, Hải quân, Không quân, các căn cứ và tất cả?
Tiến Sĩ Kissinger: Năm ngoái khi tôi ở đây, Thủ Tướng đã hỏi tôi điều này. Tôi đã trình Thủ Tướng chúng tôi muốn lưu lai một số cố vấn. Rồi Thủ Tướng có nói một câu rất hay về hậu quả của cái mà Thủ Tướng gọi là “để cái đuôi ở lại.”. Phần lớn do lời nói đó, chúng tôi, trong vòng một tháng, đã thay đổi đề nghị của chúng tôi nên bây giờ bao gồm luôn việc triệt thoái toàn bộ cố vấn trong những loại Thủ Tướng nêu lên bây giờ. Chúng tôi đã chuẩn bị triệt thoái tất cả lực lượng.
Thủ Tướng Chu: Còn về quân lực của quý quốc ở Thái Lan?
Tiến Sĩ Kissinger: Chúng tôi chưa chuẩn bị di chuyển quân lực của chúng tôi ra khỏi Thái Lan, nhưng với những điều kiện của ngưng bắn chúng tôi đồng ý sẽ không sử dụng lực lượng này trong cuộc chiến ở Việt Nam. Và tất nhiên sẽ giảm thiểu xuống mức độ trước cuộc tấn công nếu hòa bình đạt được.
Ðể giải thích điều tôi muốn nói về hành động phản bội này, dù tôi biết điều này có phần nhức nhối, thưa Thủ Tướng, nhưng tôi muốn giải thích: Nếu khi tôi tới đây lần đầu vào tháng 7 Thủ Tướng nói, “Chúng tôi không thương lượng với quý quốc cho tới khi quý quốc lật đổ Tưởng Giói Thạch và thay thế bằng một nhân vật nào đó chúng tôi chấp nhận được,” thì, dù tận tụy với quan hệ Trung Hoa - Hoa Kỳ như tôi, chúng tôi cũng không thể thỏa mãn được. Việc sẽ không thể xảy ra. Bí quyết của quan hệ giữa chúng ta là chúng ta chuẩn bị mở đầu một tiến trình mà Thủ Tướng đã bày tỏ với nhiều tin tưởng. Hành động như vậy sẽ hoàn toàn làm ô danh chúng tôi và biến chúng tôi thành một người bạn vô dụng của quý quốc, vì nếu chúng tôi hành xử như vậy với một cộng sự viên thì chúng tôi sẽ hành xử như vậy với tất cả.
Nhưng để trở lại vấn đề Thái Lan. Trong mọi quyết định quan trọng chúng ta đã bàn thảo, tối thiểu có hai khía cạnh, quyết định và xu hướng. Trong buổi tiệc hôm nọ với năm người Hoa Kỳ Thủ Tướng có viện dẫn đến trường hợp năm 1954. Và vào năm 1954, dù việc gì đã xảy ra, dù chúng tôi ký kết tài liệu gì, sự thực là Tổng Trưởng Dulles đã tìm những lý do để can thiệp, vì ông ta tin rằng Trung Cộng đã có âm mưu thôn tính Á Châu. Chúng tôi đang tìm những lý do ngược lại.
Thủ Tướng Chu: Hậu quả của chính của chính sách Dulles đã kết thúc với một số thương thuyết và ký kết Hiệp Ðịnh, nhưng bây giờ ông muốn tuân thủ những Hiệp Ðịnh này. Như vậy có nghĩa là duy trì chính sách của ông ta?
Tiến Sĩ Kissinger: Duy trì ở một mức độ. Nhưng về phía khác, khi chúng ta thỏa thuận về vụ Ðông Dương, chúng ta sẽ tạo một quan hệ mới. Nếu chúng tôi tạo được quan hệ mới với Bắc Kinh tại sao chúng tôi không tạo được với Hà Nội? Hà Nội có làm gì chúng tôi đến độ khiến chúng tôi không, giả tỉ trong mười năm, tạo một quan hệ mới?
Thủ Tướng Chu: Nếu sau khi quý vị triệt thoái và các tù binh đã hồi hương, nếu sau đó, nội chiến tái phát ở Việt Nam, quý quốc sẽ hành sử ra sao? Có thể vấn đề khó khăn cho ông để trả lời.
Tiến Sĩ Kissinger: Vấn đề có khó cho tôi trả lời một phần vì tôi không muốn khuyến khích để sự việc xảy ra. Nhưng để tôi trả lời với nhận định tốt nhất của tôi. Thí dụ, nếu đề nghị ngày 8 tháng 5 của chúng tôi được chấp thuận, tức có 4 tháng để triệt thoái và 4 tháng để trao đổi tù binh, nếu vào tháng thứ năm chiến tranh tái phát, diều này có thể khiến chúng tôi cho rằng đây chỉ là một xảo thuật nhằm đẩy chúng tôi ra và chúng tôi không thể chấp nhận được.
Nếu Bắc Việt, về phía khác, tiến hành nghiêm chỉnh sự đàm phán với miền Nam, và nếu sau một thời gian dài sự việc bùng nổ trở lại sau khi chúng tôi đã hoàn toàn tách rời, ý kiến riêng của tôi là rất khó có thể khiến chúng tôi trở lại, rất khó có thể.
Thủ Tướng Chu: Năm ngoái ông cũng nói như vậy.
Tiến Sĩ Kissinger: Năm ngoái nếu họ đã chấp nhận đề nghị của chúng tôi thì bây giờ đã được một năm. Nếu Bắc Việt có thể thay đổi...
Thủ Tướng Chu: Ông có nói năm ngoái sau khi quý ông triệt thoái và lúc đó những tù binh đã được trao trả rồi những gì xảy ra lúc đó là việc của họ. Trên nguyên tắc ông có nói vậy.
Tiến Sĩ Kissinger: Trên nguyên tắc chúng tôi đang có ý chuyển... nó, tất nhiên, tùy thuộc vào mức độ các quốc gia bên ngoài can thiệp. Nếu có ai chuyển được từ một cuộc xung đột quốc tế trong đó có nhiều thế lực lớn tham dự thành một cuộc cuộc xung đột địa phương, thì tôi nghĩ những gì Thủ Tướng nói có thể xảy ra. Nhưng đây là ý định của chúng tôi và khi chúng tôi sẽ thực hiện chính sách đó, đó là vài bảo đảm.
Hiện tại, điều khó khăn là, với những lý do dễ hiểu, phía Bắc Việt - những người tôi đã nhiều lần bày tỏ với Thủ Tướng, tôi rất kính trọng - đang phô trương bài thơ thiên anh hùng ca về cuộc đấu tranh giành độc lập qua nhiều thế kỷ và đặc biệt lại đang tái diễn những kinh nghiệm của 20 năm trước.
Thủ Tướng Chu: Nếu chúng ta kể từ sau Ðệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, 27 năm, và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chết cho mục đích này trước khi hoàn tất. Chủ Tịch Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, nhưng cũng là một người nhân đạo và ái quốc. Tôi quen biết thân tình với Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Tôi đã biết ông ta 50 năm. Tôi đã gia nhập đảng cộng sản 50 năm và đã biết ông 50 năm.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi chưa hề gặp ông ta, nhưng tôi biết một người Pháp có nhà mà Hồ Chí Minh đã cư ngụ. Thực ra, tôi đã nhờ người Pháp này nói chuyện với Hồ Chí Minh năm 1967 -và do đó tôi đã liên hệ đến những sự việc tại Ðông Dương.
Thủ Tướng Chu: Ông Salisbury cũng đã ở Hà Nội. Nhưng là một ký giả địa vị của ông ta khác với ông.
Tiến Sĩ Kissinger: Ðó là một vị trí tôi không bí mật được.
Thủ Tướng Chu: Nhược điểm đó có thể là nguyên nhân sự việc vẫn chưa giải quyết được. Có thể nếu ông có hiện diện ông đã rõ ràng hơn về tình hình.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi rõ về tình hình. Nhưng giải pháp là điều tôi không được rõ.
Thủ Tướng Chu: Ông có một chuyên viên mới. Ông Smyser bị bệnh ruột.
Tiến Sĩ Kissinger: Nhưng ông ta phục hồi ngay trước khi Thủ Tướng đãi vịt Bắc Kinh. (cười)
Thủ Tướng Chu: Ông ta vẫn hợp tác với ông?
Tiến Sĩ Kissinger: Không, ông ta trở lại Ðại Học một năm, nhưng sẽ trở lại sau một năm.
Thủ Tướng Chu: Phương pháp này của quý quốc thật hay, cho cộng sự viên nghỉ để dự Ðại Học một năm rồi trở lại.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi không nghĩ rằng Smyser sẽ tái hoạt động về những vấn đề Việt Nam. Có thể sẽ không còn vấn đề Việt Nam để làm nữa.
Thủ Tướng Chu: Không nhất thiết như vậy. Vấn đề Sài gòn thực sự là một việc quá nhức đầu. Và đây là một trái đắng do Dulles lưu lại chưa giải quyết được. Ðó là một thảm kịch do Dulles tạo nên mà bây giờ chính ông cũng đang nếm mùi trái đắng đó.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi đồng ý với Thủ Tướng là những gì chúng ta đang phải đối phó ở Việt Nam là một thảm kịch.
Thủ Tướng Chu: Quý quốc có thể rửa sạch thảm kịch này.
Tiến Sĩ Kissinger: Không. Tùy thuộc vào Thủ Tướng có ý định gì với câu rũ sạch thảm kịch này. Việc triệt thoái chúng tôi có thể thực hiện; những đòi hỏi khác chúng tôi không thực hiện được. Xin để tôi trình bày trọn vẹn sự thẩm định tình hình của tôi.
Tôi công nhận khách quan mà nói vấn đề rất khó khăn, và tôi thú thực chúng tôi đã chứng minh trong 20 năm là chúng tôi không hiểu hoàn cảnh Việt Nam rõ lắm, nhưng chính quyền Bắc Việt cũng đã làm cho giải pháp vô cùng phức tạp.
Trước hết, tới giờ tôi đã thương lượng 13 lần và tám lần với Lê Ðức Thọ; năm lần với Xuân Thủy. Mục đích chính yếu khi tôi thương lượng là gì? Mục đích chính yếu của tôi là để có thể đi vào thực chất của vấn đề và để đạt những quyết định quan trọng - đó là mục đích chính yếu của tôi trong những buổi thương thuyết. Tôi hữu dụng trong những quyết định lớn, không phải để giải quyết một loạt những tiểu tiết. Những tiểu tiết nên để những nhà ngoại giao thi hành.
Trong 13 buổi họp với họ họ đã ràng buộc tôi vào những chuyện chiến tranh du kích lặt vặt trong đó chúng tôi hành sử như ở cấp luật sư trung cấp nhằm tìm kiếm những kẽ hở của những điều khoản trong những thành ngữ. Tôi lập đi lập lại với ông Lê Ðức Thọ - Tôi hiểu điều này làm ông buồn phiền tiện đây, thưa Thủ Tướng, và tôi biết ông là người của nguyên tắc luôn luôn sát cánh với đồng minh, nhưng tôi đang cố gắng giải thích - hãy để chúng tôi sắp đặt một mục đích, thí dụ trong 6 tháng chúng tôi sẽ thực hiện điều này điều nọ, và rồi chúng tôi sẽ tìm một giải pháp khôn khéo. Và lần nào họ cũng từ chối. Lần nào họ cũng làm vậy với hai lý do. Một là họ e ngại thủ đoạn gian trá nên dành thêm thời giờ tìm hiểu những kẽ hở của những điều khoản thay vì tìm hiểu những điều khoản chính của bất cứ sự thỏa thuận nào. Và họ ép buộc để đòi hỏi tức thời những gì chúng tôi có thể chuẩn bị để thực hiện trong thời gian vài năm.
Và thứ nữa là, tính chất chiến lược của họ. Chiến lược của họ là gì? Chiến lược của họ là theo đuổi một chiến dịch quân sự với ý đồ, một là, phá hoại chính quyền Sài gòn, mà tôi hiểu, và về phía khác, một sự phối hợp quân sự với chiến dịch tâm lý để phá hoại chính quyền Hoa Kỳ, và đó là điều chúng tôi không bao giờ chấp nhận. Họ không bao giờ quyết định được hoặc họ muốn thương thuyết với chúng tôi hoặc tiêu diệt chúng tôi, hoặc ít nhất đẩy chúng tôi vào một vị thế bị mất sự hỗ trợ của quần chúng. Và vì vậy, họ sẽ không nhượng bộ, hoặc cho tới hiện tại không chịu nhượng bộ, với tôi hoặc với bất cứ người điều đình Hoa Kỳ nào, vì họ e ngại nếu có một giải pháp hoặc ngay cả việc ít trở ngại nhất, chúng tôi sẽ có sự ủng hộ của quần chúng và do đó họ sẽ không đạt được mục tiêu chính là triệt ha sự ủng hộ của quần chúng đối với chúng tôi hầu làm tê liệt chúng tôi.
Ðây chính là nguyên nhân làm buổi họp giữa tôi và Lê Ðức Thọ thất bại. Khi họ nghĩ họ đang thắng thế, chiến lược thực của họ là trình diễn cho quần chúng Hoa Kỳ tình trạng vô vọng, và do đó ép chúng tôi vào trường hợp tiến thoái lưỡng nan không còn sự lựa chọn nào ngoài sự nhượng bộ về những đòi hỏi của họ. Ðây là tại sao họ đối xử với chúng tôi về vấn đề những tù binh, không qua chính quyền hoặc Hội Hồng Thập Tự, nhưng qua những người Hoa Kỳ chống đối không hiểu tầm quan trọng của sự việc.
Thủ Tướng Chu: Nhưng cũng không chỉnh khi quý quốc đột kích trại giam tù binh của họ.
Tiến Sĩ Kissinger: Ðây, trước hết tôi nghĩ đó là một việc khác mà tôi rất vui lòng thảo luận với Thủ Tướng, nhưng tôi không nói rằng tất cả những hoạt động chúng tôi làm trong cuộc chiến đều nhất thiết là đúng cả. Tôi đang nói là chúng ta đang đối diện với một hoàn cảnh cần thiết một giải pháp. Nhưng tôi nhận - tuy không trong trường hợp này - nhưng chúng tôi đã làm nhiều lầm lỗi. Ðây là lý do tại sao họ đang làm lớn chuyện về việc triệu tập lại những phiên họp khoáng đại, và tuy vậy những ai chín chắn đều nhận ra là nó chẳng thay đổi được gì dù có phiên họp khoáng đại khi không có điều gì để thảo luận. Cho tới khi có một chương trình để thương lượng trong phiên họp khoáng đại, tất cả chỉ là tuyên truyền rỗng tuếch.
Chúng tôi đã chuẩn bị để tái nhóm phiên họp khoáng đại chỉ để kết thúc riêng vấn đề đó, nhưng chắc họ sẽ không đạt được nếu không có một nền tảng mói để thương lượng, và nếu họ không thay đổi sách lược. Chúng tôi cố gắng - và Thủ Tướng sẽ có nhận định riêng về việc này - chúng tôi tin rằng để thương thảo với các quốc gia khác nếu thiếu đạo đức và danh dự, dù có lợi về chiến thuật rồi về lâu dài cũng thất bại. Nhưng rất khó khăn để thương thảo với một quốc gia muốn phá hoại thẩm quyền của nhân vật đàm phán.
Giờ đây, chúng ta bàn về cuộc tấn công của Bắc Việt. Không có cuộc tấn công đó chúng tôi đã rút thêm quân và phi cơ nữa. Chúng tôi không có chút ý định nào để gia tăng mức độ hoạt động quân sự. Trái lại, chúng tôi sẽ giảm quân nhanh hơn. Nhưng cuộc tấn công của Bắc Việt đưa chúng tôi vào một vị trí mà họ muốn dùng sự việc của cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ để làm khó và bắt chúng tôi phải chấp nhận đòi hỏi của họ mà chúng tôi không thể thỏa mãn. Chúng tôi có thể thỏa mãn tất cả các đòi hỏi khác, nhưng không phải điều đó.
Hiện tại tình trạng hôm nay ra sao? Tôi biết phải nói gì về tuyên truyền, nhưng với sự phán đoán của tôi thì cuộc tấn công của Bắc Việt bị ngăn chặn và không có một triển vọng quân sự nào trong năm nay. Họ đã không tạo được phong trào chống đối to lớn tại Hoa Kỳ, dù rằng có vài kẻ đi loanh quanh với cờ Viet Nam, mà cũng chẳng được bao nhiêu. Vào thời gian vụ Cam bốt đã có 200,000 người chống đối tại Hoa Thịnh Ðốn, và họ cũng không ngăn chặn được việc chúng tôi làm. Sau ngày 8 tháng năm họ cố gắng lôi kéo 200,000 và họ có được 5 ngàn.
Vậy tình trạng chúng ta ra sao? Hy vọng duy nhất của Bắc Việt là sự đắc cử của McGovern vào tháng mười một. Chúng tôi không nghĩ chuyện này sẽ xảy ra. Cuộc thăm dò chót cho thấy Tổng Thống trên McGovern 20 điểm.
Thủ Tướng Chu: Ngay cả nếu McGovern đắc cử, ông ta có thể loại Thiệu được không?
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi không chắc.
Thủ Tướng Chu: Không cần thiết.
Tiến Sĩ Kissinger: Không cần thiết.
Thủ Tướng Chu: Quan niệm của tôi giống ông.
Tiến Sĩ Kissinger: Và đừng quên chúng tôi còn tại vị (cầm quyền) bẩy tháng nữa.
Thủ Tướng Chu: Ðó lại là một vấn đề khác. Ngay cả nếu ông ta đắc cử liệu ông ta có từ bỏ hỗ trợ thể chế Sài gòn không?
Tiến Sĩ Kissinger: Nói thì dễ hơn làm.
Thủ Tướng Chu: Con đường chông gai quý quốc tạo nên làm khó khăn cho quý quốc thoát ra.
Tiến Sĩ Kissinger: Ðiều đó đúng.
Thủ Tướng Chu: Dù là Tổng Thống Nixon hay McGovern hoặc Ed Kennedy. Ngay cả nếu ông là Tổng Thống hoàn cảnh cũng khó khăn. Nhưng thật đáng tiếc, ông không có điều kiện.
Tiến Sĩ Kissinger: Chúng ta đề cử cô Tang.
Thủ Tướng Chu: Ngay cô ta cũng không thoát ra nổi.
Tiến Sĩ Kissinger: Nếu cô ứng cử và để tôi làm cố vấn, có lẽ cùng nhau chúng tôi có thể làm được việc gì đó.
Thủ Tướng Chu: Việc này ràng buộc vào việc khác và hầu hết đều bất lợi.
Tiến Sĩ Kissinger: Ðiều đó đúng. Nhưng những lực lượng bầu cho McGovern sẽ đem lại một định hướng mới trong chính sách Hoa Kỳ không những đối với Việt Nam, mà tất nhiên là liên quan tới Nga Sô, Ấn Ðộ, Nhật Bản, như Thủ Tướng đã thấy trong bài xã luận của tờ Nữu ước Thời Báo. Tôi không phải giải thích. Nếu Thủ Tướng thấy cái xu hướng của Nữu ước Thời Báo, thí dụ như lúc tôi đe dọa hủy bỏ buổi họp thượng đỉnh tại Mạc Tư Khoa hoặc trường hợp bên Ấn Ðộ mà không thể nhờ họ đăng bất cứ quan điểm nào khác, ngay cả trên những cột tin tức, Thủ Tướng sẽ có vài khái niệm của thực tế về những gì sẽ xảy ra nếu điều đó xảy ra. Tôi sẽ trình bày rất thực tế. Tất cả đều ủng hộ quan hệ Trung Hoa - Hoa Kỳ. Không còn có sự chống đối cơ bản nữa. Nhưng hậu quả thực tế họ chuẩn bị gặt hái và những quyết định thực họ muốn làm ngoài sự xác nhận tình cảm và trao đổi văn hóa, sẽ khác rất nhiều.
Và do đó, chúng tôi tin rằng phải ngưng chiến tranh ngay vì lợi ích chung. Nếu chiến tranh tiếp diễn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chắc chắn sẽ thiệt hại thêm hơn là có thể có lợi. Thế tấn công quân sự của họ đã ngưng; tình trạng nội bộ khó khăn; và chúng tôi có thể bị cưỡng bách đối xử với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa những điều trên tất cả những gì tương xứng với mục đích của chúng tôi. Chúng tôi không muốn họ yếu kém. Và chúng tôi không nhìn thấy triển vọng họ có thể đảo ngược tình hình. Và chúng tôi muốn chấm dứt chiến tranh vì hiện nó đòi hỏi một nỗ lực không cân xứng với mục đích nhưng vì nó liên hệ chúng tôi vào cuộc thảo luận với những quốc gia mà chúng tôi có nhiều dịch vụ quan trọng hơn.
Nếu chúng tôi có thể thảo luận với họ như thảo luận với quý vị, thưa Thủ Tướng - tôi không muốn nói về ngôn ngữ mà về thái độ - tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể giải quyết chiến tranh. Như một sự việc thực tế, chúng tôi nghĩ cách thức nhanh nhất để chấm dứt là trên căn bản ngưng bắn, triệt thoái, và trao trả những tù binh. Ðó là giải pháp ít phức tạp nhất và tương lai tính sau. Chúng tôi sẵn sàng ngoài việc tuyên bố sự trung lập của chúng tôi trong mọi tranh chấp chính trị khi có và về chính sách đối ngoại chúng tôi chuẩn bị để thấy Nam Việt Nam thiết lập một chính sách đối ngoại trung lập.
Chúng tôi cũng có thể trở lại với đề nghị Tổng Thống trình bày ngày 25 tháng Giêng năm ngoái và được chính thức đệ trình ngày 27 tháng Giêng, và có thể sửa đổi điều khoản này hoặc điều khoản khác liên hệ tới thảo luận chính trị luôn. Nhưng trên thực tế, thảo luận chính trị kéo dài rất lâu. Và hậu quả thực tế của bất cứ cuộc thảo luận chính trị nào là hoặc xác nhận sự hiện hữu của chính quyền Sài gòn thì không chấp nhận được với Hà Nội, hoặc lật đổ chính quyền hiện hữu tại Sài gòn thì chúng tôi không chấp nhận được. Và gần như vô vọng để nghĩ đến một biện pháp có thể tương nhượng giữa hai phe này.
Cho nên chúng ta cần tìm một phương thức để chấm dứt chiến tranh, ngăn chặn nó trở nên một vấn đề quốc tế, và để hoàn cảnh khai triển tới chỗ mà tương lai của người Ðông Dương được hoàn lại cho người Ðông Dương. Và tôi cam đoan với Thủ Tướng đó là mục tiêu duy nhất của chúng tôi tại Ðông Dương, và tôi không tin nó khác biệt với Thủ Tướng. Chúng tôi không đòi hỏi gì cho chúng tôi tại đó. Và trong khi chúng tôi không thể đưa một chính quyền cộng sản lên nắm chính quyền, nếu, do sự xoay vần của lịch sử mà nó xảy ra sau một thời gian, thì nếu chúng tôi sống chung được với một chính quyền cộng sản Trung Hoa, chúng tôi sẽ chấp nhận được ở Ðông Dương.
Thủ Tướng gặp được ngày tôi nói khá nhiều. (Cười)
Thủ Tướng Chu: Vậy chúng ta chấm dứt hôm nay. Còn về sáng mai, trước hết tôi sẽ tham khảo ông Phó Chủ Tịch Yeh Chien-ying, và rồi có thể sáng hôm sau ông sẽ thảo luận với ông ta. Tôi nghe ông muốn có một buổi tiệc ngoài trời tại Cung Ðình Mùa Hạ.
Tiến Sĩ Kissinger: Có người hỏi tôi muốn tham quan thêm chỗ nào ngoài Cung Cấm. Tôi trả lời Cung Ðình Mùa Hạ đẹp quá và tôi muốn thăm nữa. Nhưng ý kiến về buổi tiệc ngoài trời là một ý thêm rất đẹp nhưng không do tôi. Ðó là ý kiến của Ban Nghi Lễ. Nhưng công việc phải ưu tiên hơn tiệc tùng.
Tham khảo:
(1) New Perspective on Dien Bien Phu by Pierre Asselin. Volume 1, No. 2 Fall 1997.
(2) Apprentices of War - Memoir of a Marine Grunt by Gary L. Tornes. In 1967, base pay: $155.00. Combat pay: $75.00. Overseas pay: $45.00. Total gross:: $255.00. Trang 247. Căn cứ theo Global Finacial Data, hối xuất chính thức tại Nam Viet Nam August 1965: $1.00 US = $118.00 VN piastres. Như vậy lương tháng của một Hạ Sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ độc thân năm 1967 = $26,550.00 đồng VN. Và một Thiếu Tá phi công Việt Nam Cộng Hòa lãnh khoảng $65,000 đồng VN trong đó có cả phụ cấp gia đình (vợ + 3 con) và phụ cấp phi hành.
(3) The Air War Against North Vietnam. USAF in S.E Asia 1961-1973 report 1984. Chapter IV.
“The President retained such firm control of the air campaign against the North that no important target or new target areas could be hit without his approval. Page 1.” And on page 4: “During the first two years of operations over the North, President Johnson periodically ordered bombing pauses in an effort to bring Hanoi's leaders around to discuss a political settlement of the war.”
(4) The White House - Memorandum of Conversation. Top Secret/Sensitive/ Exclusive Eyes Only.
Nguồn nguoi-viet.com
Bản Ghi Nhớ
Tòa Bạch Ốc
Hoa Thịnh Ðốn
Tối Mật/Nhậy
Chỉ Ðể Xem Mà Thôi
Bản Ghi Nhớ Cuộc Ðàm Thoại
Những nhân vật tham dự:
Thủ Tướng Chu Ân Lai
Ch'iao Kuan-hua, Phó Tổng Trưởng Ngoại Giao
Chang Wen-Chin, Phụ Tá Tổng Trưởng Ngoại Giao
Tang Wen-sheng, Chao-chu, Thông Dịch Viên
Hai nhân viên ghi chú biên bản
Tiến Sĩ Henry A. Kissinger, Phụ Tá Tổng Thống về An Ninh Quốc Gia
Winston Lord, Nhân Viên Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia
John D. Negroponte, Nhân Viên Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia
Ngày và Giờ: Thứ Ba, ngày 20 tháng 6 năm 1972, 2:05 - 6:05 chiều
Ðịa Ðiểm: Ðại Sảnh Ðường Nhân Dân, Bắc Kinh
Dưới đây là cuộc thương lượng và trả giá giữa Henry A. Kissinger Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Richard M. Nixon và Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai về tương lai VNCH.
Từ trang 27
Tiến Sĩ Kissinger: Ðó không phải là ý định của chúng tôi. Chúng tôi không có ý định thành lập một chế độ công quản - nó đòi hỏi một hoàn cảnh khác thường để chúng tôi thực hiện điều này. Không phải là ý đồ của chúng tôi để tạo ra một chế độ công quản. Chúng tôi thực có ý định tạo dựng một bức tường ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng, dù về chính trị hay là thực thể vật chất. Ðiều khiến chúng tôi quan ngại nhất là khi cường quốc khai thác những xung đột địa phương cho mục đích riêng của họ.
Thủ Tướng Chu: Trong những phản đối của Nga Sô về bản thông cáo giữa chúng tôi với quý quốc hình như họ đặc biệt bày tỏ sự phản đối về nguyên tắc chung: “Không bên nào nên làm bá chủ.” Họ có nghĩ là điều đó nhắm vào họ không?
Tiến Sĩ Kissinger: Họ không nói, nhưng hình như họ nghĩ rằng điều đó có thể nhắm vào họ. Chúng tôi cho rằng nó nhắm vào những quốc gia muốn tạo chế độ công quản. Tôi có một thắc mắc lý thú từ Ấn Ðộ - không biết Thủ Tướng có nghĩ vậy không. Họ nói rằng khi Á Châu - Thái Bình Dương không bao gồm Ấ Ðộ, vậy những gì chúng tôi nói tức là chúng tôi thỏa thuận để Trung Hoa công quản Ấn Ðộ (cười).
Nên tôi nói với họ là không đúng. Tôi mong Thủ Tướng không phật ý.
Thủ Tướng Chu: Ấn Ðộ là một quốc gia hết sức mập mờ. Ðó là một quốc gia rất to lớn. Nhiều khi họ làm ra vẻ một quốc gia lớn, nhưng nhiều khi họ có mặc cảm tự ti.
Tiến Sĩ Kissinger: Họ bị khống chế bởi ngoại bang qua gần hết lịch sử của họ.
Thủ Tướng Chu: Vâng, đó có thể là một trong những nhân tố lịch sử. Và một nhân tố nữa là quá nhiều cạnh tranh vĩ đại trên thế giới.
Bây giờ chúng ta sang tới vấn đề Ðông Dương - Tôi muốn nghe ông trình bày.
Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng có nói ông có vài nhận định muốn nói với tôi. Có lẽ chúng ta nên đổi vị trí để Thủ Tướng phát biểu trước.
Thủ Tướng Chu: Có những vấn đề cần tranh luận, và chúng tôi muốn nghe ông trước để biết giải pháp của ông cho vấn đề.
Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng muốn gợi ý là sau khi nghe tôi trình bày tôi sẽ thuyết phục được khiến mọi tranh luận sẽ biến mất, và sẽ không còn điều gì thêm để Thủ Tướng phải nhận định?
Thủ Tướng Chu: Tôi không có những dự tính đó, nhưng tôi thực sự mong sẽ giảm thiểu được những tranh luận.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi sẽ trình bày sự thẩm định thật vô tư của chúng tôi. Tôi biết không hợp với ý Thủ Tướng, nhưng tôi nghĩ dù sao nó cũng ích lợi để Thủ Tướng hiểu quan điểm của chúng tôi về hiện tình. Và tôi sẽ trình bày tình hình từ khi Bắc Việt bắt đầu vụ tấn công ngày 30 tháng 3.
Tôi tin rằng tôi đã giải thích vói Thủ Tướng những mục tiêu tổng quát của chúng tôi ở Ðông Dương. Hiển nhiên không phải mục tiêu của chính phủ này là sẽ duy trì vĩnh viễn những căn cứ tại Ðông Dương hoặc tiếp tục chính sách khởi xướng bởi vị tổng trưởng ngoại giao đã từ chối bắt tay Thủ Tướng. Không phải như vậy... chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử khác. Chúng tôi tin rằng tương lai quan hệ của chúng tôi với Bắc Kinh quan trọng vô biên cho tương lai của Á Châu hơn là những gì xảy ra tại Phnom Penh, tại Hà Nội hoặc ở Sài gòn.
Chắc Thủ Tướng còn nhớ khi Tổng Thống Johnson đưa quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam ông biện minh rằng vì một phần những gì xảy ra tại Ðông Dương đã được kế hoạch tại Bắc Kinh và là một phần của âm mưu thôn tính toàn cầu. Dean Rusk đã diễn đạt như vậy trong một bản tuyên bố. Rồi quý quốc tiến hành cuộc Cách Mạng Văn Hóa và không, với những gì tôi đọc, nhấn mạnh đến phiêu lưu ra ngoại bang.
Với thực tế chúng ta đang ngồi họp trong phòng này đủ thay đổi nền tảng mục đích của cuộc can thiệp đầu tiên tại Ðông Dương. Là người thừa hưởng cuộc chiến vấn đề của chúng tôi là tìm cách thanh toán nó với một phương thức không ảnh hưởng đến uy tín toàn cầu của chúng tôi và - đây không phải là mối quan tâm chính của Thủ Tướng - để ổn định nội bộ tại Hoa Kỳ. Nên chúng tôi đã chân thành cố gắng để chấm dứt chiến tranh, và Thủ Tướng có thể biết hoặc không biết, tôi đã đích thân khởi xướng thương lượng với Bắc Việt năm 1967 khi tôi còn ở ngoại biên của chính quyền khi không được quần chúng ưa thích, vì tôi tin rằng phải có một giải pháp chính trị để chấm dứt cuộc chiến.
Rồi từ khi chúng tôi nắm chính quyền chúng tôi đã cố gắng chấm dứt cuộc chiến. Và chúng tôi hiểu, như tôi đã thưa với Thủ Tướng trước đây là, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nhân tố vĩnh viễn trên bán đảo Ðông Dương và có thể là một thực thể mạnh nhất. Và chúng tôi đã không có ý định tiêu diệt họ hoặc ngay cả đánh bại họ. Sau khi chiến tranh chấm dứt chúng tôi sẽ triệt thoái xa 12 ngàn dậm. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn chỉ cách Sài gòn 300 dậm.
Ðó là một thực tế mà họ có vẻ không hiểu.
Thủ Tướng Chu: Ðiều mà họ quan tâm tới là vụ gọi là Việt Nam Hóa chiến tranh của quý quốc.
Tiến Sĩ Kissinger: Nhưng họ có một sự thiếu tự tin kỳ lạ. Chúng tôi đã cố gắng làm gì? Chúng ta hãy quên... họ là bậc thầy về phân tích những điểm khác nhau nhưng quên những khái niệm toàn bộ. Chúng tôi đã cố gắng tách rời hậu quả quân sự ra khỏi hậu quả chính trị để rút ra khỏi vùng và để những thế lực địa phương tự xếp đặt tương lai của họ. Thật rất kỳ lạ, phía Bắc Việt đã cố níu chúng tôi ở lại để chúng tôi giải quyết vấn đề chính trị cho họ. Thí dụ như ngày 30 tháng 5 vừa qua, chúng tôi đã đề nghị là chúng tôi sẽ triệt thoái tất cả lực lượng nếu có sự ngưng bắn và hoàn trả các tù binh. Ðúng là ngày 31, không phải 30. Phía Bắc Việt sẽ ở đâu ngày hôm nay nếu họ đã chấp thuận dề nghị này. Tại sao? Vì họ muốn chúng tôi lật đổ chính quyền và đặt để chính quyền của họ vào. Chúng tôi không thương lượng. Tôi cố gắng giải thích điều chúng tôi suy nghĩ. Hậu quả thực tế của những đề nghị của chúng tôi vẫn là để chúng tôi triệt thoái; hậu quả thực tế của những đề nghị của họ là giữ chúng tôi ở lại.
Họ có hỏi chúng tôi và có một đòi hỏi họ đưa ra mà chúng tôi đã không đáp ứng, không thể đáp ứng và sẽ không đáp ứng, dù phải trả với giá nào với những quan hệ khác, và đó là chúng tôi lật đổ những nhân vật chúng tôi vẫn thường giao thiệp và cũng là những người tin tưởng ở chúng tôi, đã có một hành động nào đó. Ðây không phải là sự ưa thích cá nhân của một nhân vật nào đó đối với những nhân vật liên hệ. Không phải vì chúng tôi muốn có một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn. Tại sao chúng tôi lại muốn một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn khi chúng tôi có thể sống với những chính quyền không thân Mỹ tại các quốc giato lớn hơn nhiều ở Á Châu? Vì rằng một quốc gia không thể bị đòi hỏi để ràng buộc vào một hành động phản bội to lớn và coi đó như một nền tảng của chính sách đối ngoại.
Thủ Tướng Chu: Ông nói triệt thoái những lực lượng. Ông muốn nói triệt thoái toàn bộ Lục quân, Hải quân, Không quân, các căn cứ và tất cả?
Tiến Sĩ Kissinger: Năm ngoái khi tôi ở đây, Thủ Tướng đã hỏi tôi điều này. Tôi đã trình Thủ Tướng chúng tôi muốn lưu lai một số cố vấn. Rồi Thủ Tướng có nói một câu rất hay về hậu quả của cái mà Thủ Tướng gọi là “để cái đuôi ở lại.”. Phần lớn do lời nói đó, chúng tôi, trong vòng một tháng, đã thay đổi đề nghị của chúng tôi nên bây giờ bao gồm luôn việc triệt thoái toàn bộ cố vấn trong những loại Thủ Tướng nêu lên bây giờ. Chúng tôi đã chuẩn bị triệt thoái tất cả lực lượng.
Thủ Tướng Chu: Còn về quân lực của quý quốc ở Thái Lan?
Tiến Sĩ Kissinger: Chúng tôi chưa chuẩn bị di chuyển quân lực của chúng tôi ra khỏi Thái Lan, nhưng với những điều kiện của ngưng bắn chúng tôi đồng ý sẽ không sử dụng lực lượng này trong cuộc chiến ở Việt Nam. Và tất nhiên sẽ giảm thiểu xuống mức độ trước cuộc tấn công nếu hòa bình đạt được.
Ðể giải thích điều tôi muốn nói về hành động phản bội này, dù tôi biết điều này có phần nhức nhối, thưa Thủ Tướng, nhưng tôi muốn giải thích: Nếu khi tôi tới đây lần đầu vào tháng 7 Thủ Tướng nói, “Chúng tôi không thương lượng với quý quốc cho tới khi quý quốc lật đổ Tưởng Giói Thạch và thay thế bằng một nhân vật nào đó chúng tôi chấp nhận được,” thì, dù tận tụy với quan hệ Trung Hoa - Hoa Kỳ như tôi, chúng tôi cũng không thể thỏa mãn được. Việc sẽ không thể xảy ra. Bí quyết của quan hệ giữa chúng ta là chúng ta chuẩn bị mở đầu một tiến trình mà Thủ Tướng đã bày tỏ với nhiều tin tưởng. Hành động như vậy sẽ hoàn toàn làm ô danh chúng tôi và biến chúng tôi thành một người bạn vô dụng của quý quốc, vì nếu chúng tôi hành xử như vậy với một cộng sự viên thì chúng tôi sẽ hành xử như vậy với tất cả.
Nhưng để trở lại vấn đề Thái Lan. Trong mọi quyết định quan trọng chúng ta đã bàn thảo, tối thiểu có hai khía cạnh, quyết định và xu hướng. Trong buổi tiệc hôm nọ với năm người Hoa Kỳ Thủ Tướng có viện dẫn đến trường hợp năm 1954. Và vào năm 1954, dù việc gì đã xảy ra, dù chúng tôi ký kết tài liệu gì, sự thực là Tổng Trưởng Dulles đã tìm những lý do để can thiệp, vì ông ta tin rằng Trung Cộng đã có âm mưu thôn tính Á Châu. Chúng tôi đang tìm những lý do ngược lại.
Thủ Tướng Chu: Hậu quả của chính của chính sách Dulles đã kết thúc với một số thương thuyết và ký kết Hiệp Ðịnh, nhưng bây giờ ông muốn tuân thủ những Hiệp Ðịnh này. Như vậy có nghĩa là duy trì chính sách của ông ta?
Tiến Sĩ Kissinger: Duy trì ở một mức độ. Nhưng về phía khác, khi chúng ta thỏa thuận về vụ Ðông Dương, chúng ta sẽ tạo một quan hệ mới. Nếu chúng tôi tạo được quan hệ mới với Bắc Kinh tại sao chúng tôi không tạo được với Hà Nội? Hà Nội có làm gì chúng tôi đến độ khiến chúng tôi không, giả tỉ trong mười năm, tạo một quan hệ mới?
Thủ Tướng Chu: Nếu sau khi quý vị triệt thoái và các tù binh đã hồi hương, nếu sau đó, nội chiến tái phát ở Việt Nam, quý quốc sẽ hành sử ra sao? Có thể vấn đề khó khăn cho ông để trả lời.
Tiến Sĩ Kissinger: Vấn đề có khó cho tôi trả lời một phần vì tôi không muốn khuyến khích để sự việc xảy ra. Nhưng để tôi trả lời với nhận định tốt nhất của tôi. Thí dụ, nếu đề nghị ngày 8 tháng 5 của chúng tôi được chấp thuận, tức có 4 tháng để triệt thoái và 4 tháng để trao đổi tù binh, nếu vào tháng thứ năm chiến tranh tái phát, diều này có thể khiến chúng tôi cho rằng đây chỉ là một xảo thuật nhằm đẩy chúng tôi ra và chúng tôi không thể chấp nhận được.
Nếu Bắc Việt, về phía khác, tiến hành nghiêm chỉnh sự đàm phán với miền Nam, và nếu sau một thời gian dài sự việc bùng nổ trở lại sau khi chúng tôi đã hoàn toàn tách rời, ý kiến riêng của tôi là rất khó có thể khiến chúng tôi trở lại, rất khó có thể.
Thủ Tướng Chu: Năm ngoái ông cũng nói như vậy.
Tiến Sĩ Kissinger: Năm ngoái nếu họ đã chấp nhận đề nghị của chúng tôi thì bây giờ đã được một năm. Nếu Bắc Việt có thể thay đổi...
Thủ Tướng Chu: Ông có nói năm ngoái sau khi quý ông triệt thoái và lúc đó những tù binh đã được trao trả rồi những gì xảy ra lúc đó là việc của họ. Trên nguyên tắc ông có nói vậy.
Tiến Sĩ Kissinger: Trên nguyên tắc chúng tôi đang có ý chuyển... nó, tất nhiên, tùy thuộc vào mức độ các quốc gia bên ngoài can thiệp. Nếu có ai chuyển được từ một cuộc xung đột quốc tế trong đó có nhiều thế lực lớn tham dự thành một cuộc cuộc xung đột địa phương, thì tôi nghĩ những gì Thủ Tướng nói có thể xảy ra. Nhưng đây là ý định của chúng tôi và khi chúng tôi sẽ thực hiện chính sách đó, đó là vài bảo đảm.
Hiện tại, điều khó khăn là, với những lý do dễ hiểu, phía Bắc Việt - những người tôi đã nhiều lần bày tỏ với Thủ Tướng, tôi rất kính trọng - đang phô trương bài thơ thiên anh hùng ca về cuộc đấu tranh giành độc lập qua nhiều thế kỷ và đặc biệt lại đang tái diễn những kinh nghiệm của 20 năm trước.
Thủ Tướng Chu: Nếu chúng ta kể từ sau Ðệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, 27 năm, và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chết cho mục đích này trước khi hoàn tất. Chủ Tịch Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, nhưng cũng là một người nhân đạo và ái quốc. Tôi quen biết thân tình với Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Tôi đã biết ông ta 50 năm. Tôi đã gia nhập đảng cộng sản 50 năm và đã biết ông 50 năm.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi chưa hề gặp ông ta, nhưng tôi biết một người Pháp có nhà mà Hồ Chí Minh đã cư ngụ. Thực ra, tôi đã nhờ người Pháp này nói chuyện với Hồ Chí Minh năm 1967 -và do đó tôi đã liên hệ đến những sự việc tại Ðông Dương.
Thủ Tướng Chu: Ông Salisbury cũng đã ở Hà Nội. Nhưng là một ký giả địa vị của ông ta khác với ông.
Tiến Sĩ Kissinger: Ðó là một vị trí tôi không bí mật được.
Thủ Tướng Chu: Nhược điểm đó có thể là nguyên nhân sự việc vẫn chưa giải quyết được. Có thể nếu ông có hiện diện ông đã rõ ràng hơn về tình hình.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi rõ về tình hình. Nhưng giải pháp là điều tôi không được rõ.
Thủ Tướng Chu: Ông có một chuyên viên mới. Ông Smyser bị bệnh ruột.
Tiến Sĩ Kissinger: Nhưng ông ta phục hồi ngay trước khi Thủ Tướng đãi vịt Bắc Kinh. (cười)
Thủ Tướng Chu: Ông ta vẫn hợp tác với ông?
Tiến Sĩ Kissinger: Không, ông ta trở lại Ðại Học một năm, nhưng sẽ trở lại sau một năm.
Thủ Tướng Chu: Phương pháp này của quý quốc thật hay, cho cộng sự viên nghỉ để dự Ðại Học một năm rồi trở lại.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi không nghĩ rằng Smyser sẽ tái hoạt động về những vấn đề Việt Nam. Có thể sẽ không còn vấn đề Việt Nam để làm nữa.
Thủ Tướng Chu: Không nhất thiết như vậy. Vấn đề Sài gòn thực sự là một việc quá nhức đầu. Và đây là một trái đắng do Dulles lưu lại chưa giải quyết được. Ðó là một thảm kịch do Dulles tạo nên mà bây giờ chính ông cũng đang nếm mùi trái đắng đó.
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi đồng ý với Thủ Tướng là những gì chúng ta đang phải đối phó ở Việt Nam là một thảm kịch.
Thủ Tướng Chu: Quý quốc có thể rửa sạch thảm kịch này.
Tiến Sĩ Kissinger: Không. Tùy thuộc vào Thủ Tướng có ý định gì với câu rũ sạch thảm kịch này. Việc triệt thoái chúng tôi có thể thực hiện; những đòi hỏi khác chúng tôi không thực hiện được. Xin để tôi trình bày trọn vẹn sự thẩm định tình hình của tôi.
Tôi công nhận khách quan mà nói vấn đề rất khó khăn, và tôi thú thực chúng tôi đã chứng minh trong 20 năm là chúng tôi không hiểu hoàn cảnh Việt Nam rõ lắm, nhưng chính quyền Bắc Việt cũng đã làm cho giải pháp vô cùng phức tạp.
Trước hết, tới giờ tôi đã thương lượng 13 lần và tám lần với Lê Ðức Thọ; năm lần với Xuân Thủy. Mục đích chính yếu khi tôi thương lượng là gì? Mục đích chính yếu của tôi là để có thể đi vào thực chất của vấn đề và để đạt những quyết định quan trọng - đó là mục đích chính yếu của tôi trong những buổi thương thuyết. Tôi hữu dụng trong những quyết định lớn, không phải để giải quyết một loạt những tiểu tiết. Những tiểu tiết nên để những nhà ngoại giao thi hành.
Trong 13 buổi họp với họ họ đã ràng buộc tôi vào những chuyện chiến tranh du kích lặt vặt trong đó chúng tôi hành sử như ở cấp luật sư trung cấp nhằm tìm kiếm những kẽ hở của những điều khoản trong những thành ngữ. Tôi lập đi lập lại với ông Lê Ðức Thọ - Tôi hiểu điều này làm ông buồn phiền tiện đây, thưa Thủ Tướng, và tôi biết ông là người của nguyên tắc luôn luôn sát cánh với đồng minh, nhưng tôi đang cố gắng giải thích - hãy để chúng tôi sắp đặt một mục đích, thí dụ trong 6 tháng chúng tôi sẽ thực hiện điều này điều nọ, và rồi chúng tôi sẽ tìm một giải pháp khôn khéo. Và lần nào họ cũng từ chối. Lần nào họ cũng làm vậy với hai lý do. Một là họ e ngại thủ đoạn gian trá nên dành thêm thời giờ tìm hiểu những kẽ hở của những điều khoản thay vì tìm hiểu những điều khoản chính của bất cứ sự thỏa thuận nào. Và họ ép buộc để đòi hỏi tức thời những gì chúng tôi có thể chuẩn bị để thực hiện trong thời gian vài năm.
Và thứ nữa là, tính chất chiến lược của họ. Chiến lược của họ là gì? Chiến lược của họ là theo đuổi một chiến dịch quân sự với ý đồ, một là, phá hoại chính quyền Sài gòn, mà tôi hiểu, và về phía khác, một sự phối hợp quân sự với chiến dịch tâm lý để phá hoại chính quyền Hoa Kỳ, và đó là điều chúng tôi không bao giờ chấp nhận. Họ không bao giờ quyết định được hoặc họ muốn thương thuyết với chúng tôi hoặc tiêu diệt chúng tôi, hoặc ít nhất đẩy chúng tôi vào một vị thế bị mất sự hỗ trợ của quần chúng. Và vì vậy, họ sẽ không nhượng bộ, hoặc cho tới hiện tại không chịu nhượng bộ, với tôi hoặc với bất cứ người điều đình Hoa Kỳ nào, vì họ e ngại nếu có một giải pháp hoặc ngay cả việc ít trở ngại nhất, chúng tôi sẽ có sự ủng hộ của quần chúng và do đó họ sẽ không đạt được mục tiêu chính là triệt ha sự ủng hộ của quần chúng đối với chúng tôi hầu làm tê liệt chúng tôi.
Ðây chính là nguyên nhân làm buổi họp giữa tôi và Lê Ðức Thọ thất bại. Khi họ nghĩ họ đang thắng thế, chiến lược thực của họ là trình diễn cho quần chúng Hoa Kỳ tình trạng vô vọng, và do đó ép chúng tôi vào trường hợp tiến thoái lưỡng nan không còn sự lựa chọn nào ngoài sự nhượng bộ về những đòi hỏi của họ. Ðây là tại sao họ đối xử với chúng tôi về vấn đề những tù binh, không qua chính quyền hoặc Hội Hồng Thập Tự, nhưng qua những người Hoa Kỳ chống đối không hiểu tầm quan trọng của sự việc.
Thủ Tướng Chu: Nhưng cũng không chỉnh khi quý quốc đột kích trại giam tù binh của họ.
Tiến Sĩ Kissinger: Ðây, trước hết tôi nghĩ đó là một việc khác mà tôi rất vui lòng thảo luận với Thủ Tướng, nhưng tôi không nói rằng tất cả những hoạt động chúng tôi làm trong cuộc chiến đều nhất thiết là đúng cả. Tôi đang nói là chúng ta đang đối diện với một hoàn cảnh cần thiết một giải pháp. Nhưng tôi nhận - tuy không trong trường hợp này - nhưng chúng tôi đã làm nhiều lầm lỗi. Ðây là lý do tại sao họ đang làm lớn chuyện về việc triệu tập lại những phiên họp khoáng đại, và tuy vậy những ai chín chắn đều nhận ra là nó chẳng thay đổi được gì dù có phiên họp khoáng đại khi không có điều gì để thảo luận. Cho tới khi có một chương trình để thương lượng trong phiên họp khoáng đại, tất cả chỉ là tuyên truyền rỗng tuếch.
Chúng tôi đã chuẩn bị để tái nhóm phiên họp khoáng đại chỉ để kết thúc riêng vấn đề đó, nhưng chắc họ sẽ không đạt được nếu không có một nền tảng mói để thương lượng, và nếu họ không thay đổi sách lược. Chúng tôi cố gắng - và Thủ Tướng sẽ có nhận định riêng về việc này - chúng tôi tin rằng để thương thảo với các quốc gia khác nếu thiếu đạo đức và danh dự, dù có lợi về chiến thuật rồi về lâu dài cũng thất bại. Nhưng rất khó khăn để thương thảo với một quốc gia muốn phá hoại thẩm quyền của nhân vật đàm phán.
Giờ đây, chúng ta bàn về cuộc tấn công của Bắc Việt. Không có cuộc tấn công đó chúng tôi đã rút thêm quân và phi cơ nữa. Chúng tôi không có chút ý định nào để gia tăng mức độ hoạt động quân sự. Trái lại, chúng tôi sẽ giảm quân nhanh hơn. Nhưng cuộc tấn công của Bắc Việt đưa chúng tôi vào một vị trí mà họ muốn dùng sự việc của cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ để làm khó và bắt chúng tôi phải chấp nhận đòi hỏi của họ mà chúng tôi không thể thỏa mãn. Chúng tôi có thể thỏa mãn tất cả các đòi hỏi khác, nhưng không phải điều đó.
Hiện tại tình trạng hôm nay ra sao? Tôi biết phải nói gì về tuyên truyền, nhưng với sự phán đoán của tôi thì cuộc tấn công của Bắc Việt bị ngăn chặn và không có một triển vọng quân sự nào trong năm nay. Họ đã không tạo được phong trào chống đối to lớn tại Hoa Kỳ, dù rằng có vài kẻ đi loanh quanh với cờ Viet Nam, mà cũng chẳng được bao nhiêu. Vào thời gian vụ Cam bốt đã có 200,000 người chống đối tại Hoa Thịnh Ðốn, và họ cũng không ngăn chặn được việc chúng tôi làm. Sau ngày 8 tháng năm họ cố gắng lôi kéo 200,000 và họ có được 5 ngàn.
Vậy tình trạng chúng ta ra sao? Hy vọng duy nhất của Bắc Việt là sự đắc cử của McGovern vào tháng mười một. Chúng tôi không nghĩ chuyện này sẽ xảy ra. Cuộc thăm dò chót cho thấy Tổng Thống trên McGovern 20 điểm.
Thủ Tướng Chu: Ngay cả nếu McGovern đắc cử, ông ta có thể loại Thiệu được không?
Tiến Sĩ Kissinger: Tôi không chắc.
Thủ Tướng Chu: Không cần thiết.
Tiến Sĩ Kissinger: Không cần thiết.
Thủ Tướng Chu: Quan niệm của tôi giống ông.
Tiến Sĩ Kissinger: Và đừng quên chúng tôi còn tại vị (cầm quyền) bẩy tháng nữa.
Thủ Tướng Chu: Ðó lại là một vấn đề khác. Ngay cả nếu ông ta đắc cử liệu ông ta có từ bỏ hỗ trợ thể chế Sài gòn không?
Tiến Sĩ Kissinger: Nói thì dễ hơn làm.
Thủ Tướng Chu: Con đường chông gai quý quốc tạo nên làm khó khăn cho quý quốc thoát ra.
Tiến Sĩ Kissinger: Ðiều đó đúng.
Thủ Tướng Chu: Dù là Tổng Thống Nixon hay McGovern hoặc Ed Kennedy. Ngay cả nếu ông là Tổng Thống hoàn cảnh cũng khó khăn. Nhưng thật đáng tiếc, ông không có điều kiện.
Tiến Sĩ Kissinger: Chúng ta đề cử cô Tang.
Thủ Tướng Chu: Ngay cô ta cũng không thoát ra nổi.
Tiến Sĩ Kissinger: Nếu cô ứng cử và để tôi làm cố vấn, có lẽ cùng nhau chúng tôi có thể làm được việc gì đó.
Thủ Tướng Chu: Việc này ràng buộc vào việc khác và hầu hết đều bất lợi.
Tiến Sĩ Kissinger: Ðiều đó đúng. Nhưng những lực lượng bầu cho McGovern sẽ đem lại một định hướng mới trong chính sách Hoa Kỳ không những đối với Việt Nam, mà tất nhiên là liên quan tới Nga Sô, Ấn Ðộ, Nhật Bản, như Thủ Tướng đã thấy trong bài xã luận của tờ Nữu ước Thời Báo. Tôi không phải giải thích. Nếu Thủ Tướng thấy cái xu hướng của Nữu ước Thời Báo, thí dụ như lúc tôi đe dọa hủy bỏ buổi họp thượng đỉnh tại Mạc Tư Khoa hoặc trường hợp bên Ấn Ðộ mà không thể nhờ họ đăng bất cứ quan điểm nào khác, ngay cả trên những cột tin tức, Thủ Tướng sẽ có vài khái niệm của thực tế về những gì sẽ xảy ra nếu điều đó xảy ra. Tôi sẽ trình bày rất thực tế. Tất cả đều ủng hộ quan hệ Trung Hoa - Hoa Kỳ. Không còn có sự chống đối cơ bản nữa. Nhưng hậu quả thực tế họ chuẩn bị gặt hái và những quyết định thực họ muốn làm ngoài sự xác nhận tình cảm và trao đổi văn hóa, sẽ khác rất nhiều.
Và do đó, chúng tôi tin rằng phải ngưng chiến tranh ngay vì lợi ích chung. Nếu chiến tranh tiếp diễn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chắc chắn sẽ thiệt hại thêm hơn là có thể có lợi. Thế tấn công quân sự của họ đã ngưng; tình trạng nội bộ khó khăn; và chúng tôi có thể bị cưỡng bách đối xử với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa những điều trên tất cả những gì tương xứng với mục đích của chúng tôi. Chúng tôi không muốn họ yếu kém. Và chúng tôi không nhìn thấy triển vọng họ có thể đảo ngược tình hình. Và chúng tôi muốn chấm dứt chiến tranh vì hiện nó đòi hỏi một nỗ lực không cân xứng với mục đích nhưng vì nó liên hệ chúng tôi vào cuộc thảo luận với những quốc gia mà chúng tôi có nhiều dịch vụ quan trọng hơn.
Nếu chúng tôi có thể thảo luận với họ như thảo luận với quý vị, thưa Thủ Tướng - tôi không muốn nói về ngôn ngữ mà về thái độ - tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể giải quyết chiến tranh. Như một sự việc thực tế, chúng tôi nghĩ cách thức nhanh nhất để chấm dứt là trên căn bản ngưng bắn, triệt thoái, và trao trả những tù binh. Ðó là giải pháp ít phức tạp nhất và tương lai tính sau. Chúng tôi sẵn sàng ngoài việc tuyên bố sự trung lập của chúng tôi trong mọi tranh chấp chính trị khi có và về chính sách đối ngoại chúng tôi chuẩn bị để thấy Nam Việt Nam thiết lập một chính sách đối ngoại trung lập.
Chúng tôi cũng có thể trở lại với đề nghị Tổng Thống trình bày ngày 25 tháng Giêng năm ngoái và được chính thức đệ trình ngày 27 tháng Giêng, và có thể sửa đổi điều khoản này hoặc điều khoản khác liên hệ tới thảo luận chính trị luôn. Nhưng trên thực tế, thảo luận chính trị kéo dài rất lâu. Và hậu quả thực tế của bất cứ cuộc thảo luận chính trị nào là hoặc xác nhận sự hiện hữu của chính quyền Sài gòn thì không chấp nhận được với Hà Nội, hoặc lật đổ chính quyền hiện hữu tại Sài gòn thì chúng tôi không chấp nhận được. Và gần như vô vọng để nghĩ đến một biện pháp có thể tương nhượng giữa hai phe này.
Cho nên chúng ta cần tìm một phương thức để chấm dứt chiến tranh, ngăn chặn nó trở nên một vấn đề quốc tế, và để hoàn cảnh khai triển tới chỗ mà tương lai của người Ðông Dương được hoàn lại cho người Ðông Dương. Và tôi cam đoan với Thủ Tướng đó là mục tiêu duy nhất của chúng tôi tại Ðông Dương, và tôi không tin nó khác biệt với Thủ Tướng. Chúng tôi không đòi hỏi gì cho chúng tôi tại đó. Và trong khi chúng tôi không thể đưa một chính quyền cộng sản lên nắm chính quyền, nếu, do sự xoay vần của lịch sử mà nó xảy ra sau một thời gian, thì nếu chúng tôi sống chung được với một chính quyền cộng sản Trung Hoa, chúng tôi sẽ chấp nhận được ở Ðông Dương.
Thủ Tướng gặp được ngày tôi nói khá nhiều. (Cười)
Thủ Tướng Chu: Vậy chúng ta chấm dứt hôm nay. Còn về sáng mai, trước hết tôi sẽ tham khảo ông Phó Chủ Tịch Yeh Chien-ying, và rồi có thể sáng hôm sau ông sẽ thảo luận với ông ta. Tôi nghe ông muốn có một buổi tiệc ngoài trời tại Cung Ðình Mùa Hạ.
Tiến Sĩ Kissinger: Có người hỏi tôi muốn tham quan thêm chỗ nào ngoài Cung Cấm. Tôi trả lời Cung Ðình Mùa Hạ đẹp quá và tôi muốn thăm nữa. Nhưng ý kiến về buổi tiệc ngoài trời là một ý thêm rất đẹp nhưng không do tôi. Ðó là ý kiến của Ban Nghi Lễ. Nhưng công việc phải ưu tiên hơn tiệc tùng.
Tham khảo:
(1) New Perspective on Dien Bien Phu by Pierre Asselin. Volume 1, No. 2 Fall 1997.
(2) Apprentices of War - Memoir of a Marine Grunt by Gary L. Tornes. In 1967, base pay: $155.00. Combat pay: $75.00. Overseas pay: $45.00. Total gross:: $255.00. Trang 247. Căn cứ theo Global Finacial Data, hối xuất chính thức tại Nam Viet Nam August 1965: $1.00 US = $118.00 VN piastres. Như vậy lương tháng của một Hạ Sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ độc thân năm 1967 = $26,550.00 đồng VN. Và một Thiếu Tá phi công Việt Nam Cộng Hòa lãnh khoảng $65,000 đồng VN trong đó có cả phụ cấp gia đình (vợ + 3 con) và phụ cấp phi hành.
(3) The Air War Against North Vietnam. USAF in S.E Asia 1961-1973 report 1984. Chapter IV.
“The President retained such firm control of the air campaign against the North that no important target or new target areas could be hit without his approval. Page 1.” And on page 4: “During the first two years of operations over the North, President Johnson periodically ordered bombing pauses in an effort to bring Hanoi's leaders around to discuss a political settlement of the war.”
(4) The White House - Memorandum of Conversation. Top Secret/Sensitive/ Exclusive Eyes Only.
TẾT MẬU THÂN: BẢN CHẤT HUNG BẠO VÀ PHI NHÂN CỦA CSVN ÐƯỢC RÕ NÉT
TẾT MẬU THÂN: BẢN CHẤT HUNG BẠO VÀ PHI NHÂN CỦA CSVN ÐƯỢC RÕ NÉT
Ls. Hoàng Duy Hùng
Tháng 12 năm 1997, Cộng Sản Việt Nam tổ chức tưởng niệm 25 năm thành phố Hà Nội bị Mỹ dội bom để đánh động lương tâm người Mỹ mặc cảm là người hiếu sát, và qua cơ hội này, chúng móc tiền của người Mỹ. Lương tâm người Mỹ áy náy, viện trợ nhân đạo cho Hà Nội để xoa dịu nỗi khổ những nạn nhân chiến tranh. Số tiền này vào túi các cán bộ cao cấp và không hề đến tay những nạn nhân. Trung tuần tháng Giêng 1998, Hà Nội lại tổ chức kỷ niệm 25 năm Giải Hòa Bình Nobel “ban tặng” cho Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ để rêu rao rằng họ là những người hiếu hòa, nhưng trong thực tế, sau Hội Nghị Paris năm 1973, chính họ là những người đã xé hiệp ước và tấn công cưỡng chiếm toàn thể miền Nam Việt Nam năm 1975. Chúng không có chút ngượng ngạo trước bản chất lường gạt dối trá đó của chúng, mà còn cho đó là một vinh dự vì đã biết sử dụng những ma thuật trong chính trị để lường gạt dân chúng Việt Nam và cả quốc tế!
Cộng Sản Việt Nam còn ma mãnh hơn nữa khi chúng tìm cách che đậy hành động phi nhân mà chúng đã xúc phạm đến dân tộc Việt Nam trong biến cố Mậu Thân. Là những con người còn lương tri, còn quan tâm với tiền đồ dân tộc, bắt buộc chúng ta phải lên tiếng lột trần bản chất phi nhân đó của Cộng Sản, tranh đấu buộc ÐCSVN phải nhận tội và xin tội với dân tộc cũng như phải trả lại quyền tự quyết cho dân tộc. Việc làm này của chúng ta có 3 ý nghĩa:
1/ Cầu cho quốc thái dân an, kính mong quốc tổ và các vị liệt tổ liệt tôn thánh hóa lại những ngày linh thiêng của đầu năm để đi đúng với tình tự và truyền thống dân tộc mà Cộng Sản Việt Nam đã làm hoen ố;
2/ Cầu nguyện cho các oan hồn đã chết trong dịp Mậu Thân, nhất là những oan hồn bị chôn sống tập thể, được siêu thoát, nhờ đó họ sẽ cầu nguyện và hộ phù cho đất nước sớm được thịnh trị ấm no trong một thể chế Dân Chủ - Pháp Trị - Nhân Bản;
3/ Lột trần bản chất phi nhân và những thủ đoạn độc ác của Cộng Sản Viêt Nam để cho dân Việt Nam và cả thế giới nhận rõ đảng Cộng Sản Việt Nam là một tập đoàn sắt máu, hiếu chiến và diệt chủng, từ đó toàn dân có thêm nghị lực tranh đấu giải thể chế độ phi nhân này.
Phong tục và tập quán của người Việt Nam từ ngàn xưa lúc nào cũng trân quý những ngày đầu năm. Ðối với người Việt, Tết Nguyên Ðán là những ngày linh thiêng nhất của dân tộc. Những ngày này được dành riêng để làm lễ cúng bái tổ tiên, cầu an cho tổ quốc, làng xã và gia đình. Những ngày này chính là những ngày của niềm vui, của hạnh phúc cho mọi lứa tuổi và cho mọi thành phần trong xã hội. Mọi tranh chấp hay thù hiềm đều được kiêng cử trong những ngày đầu năm. Lúc xưa, Vua Quang Trung, khi tiến công đánh quân Thanh giải phóng đất nước, ngài đã cho quân lính nghỉ ăn Tết trước, vì, những ngày khác có thể bỏ quên, nhưng, những ngày Tết thì không thể thiếu xót hoặc bị làm nhơ nhuốc được.
Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt, những ngày linh thiêng nhất của dân tộc đã bị ÐCSVN bôi nhọ làm lem luốc tới tận bùn đen. Năm 1968, tức năm Mậu Thân, đúng Ðêm Giao Thừa, Cộng Sản Việt Nam mở chiến dịch tổng tấn công miền Nam Việt Nam và giết chết hàng vạn người dân vô tội. Những bộ đội của chúng, vì thời cuộc, vì nhận chỉ thị cấp trên, đã xung trận và hàng vạn thanh niên bộ đội đã gục ngã cho một cuộc chiến phi nhân. Cộng Sản Việt Nam không còn kiêng khem gì những ngày Tết mà tổ tiên đã bao công sức vun bồi trở thành những tập quán và truyền thống đi vào trong giòng sinh mệnh của dân tộc.
I Những Diễn Tiến Trong Những Ngày Ðầu Năm Mậu Thân
Chiều ngày 20 tháng 1, 1968, trước Tết 10 ngày, để đánh lạc hướng các chiến lược gia Việt Nam Cộng Hòa và các chiến lược gia phe Ðồng Minh, Cộng Sản pháo kích và tấn công mạnh mẽ bằng bộ binh vào Khe Sanh. Khe Sanh là một trọng điểm chiến lược chặn ngang đường xâm nhập của quân Cộng Sản vào Vùng 1 Chiến Thuật nằm ở ngã ba biên giới Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam và Lào. Khe Sanh cách con sông Bến Hải không xa, và cách Cồn Tiên khoảng 30 cây số. Có khoảng 6000 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trấn đóng tại đây. Cuộc tấn công vào Khe Sanh đã khiến ngay từ đầu 20 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bị chết và 109 người bị thương. Vì sự tấn công của Cộng quân vào Khe Sanh, lệnh hưu chiến trong dịp Tết trước định 48 giờ thì rút lại còn 36 tiếng. Lệnh hưu chiến có giá trị từ 18 giờ ngày 29 tháng 1 đến 06 giờ ngày 31 tháng 1, tức là từ đêm 30 Tết và trọn ngày Mồng Một Tết Nguyên Ðán.
Có 3 đợt tấn công quy mô của Cộng Quân vào các tỉnh lỵ và thị trấn miền Nam. Cuộc tấn công thứ nhất bắt đầu từ đêm 30 Tết, tức ngày 29 tháng 1 đến ngày 10 tháng 2. Cuộc tấn công lần thứ hai từ ngày 17 đến ngày 25 tháng 2. Và cuộc tấn công lần thứ ba vào tối ngày 5 tháng 3. Cuộc tấn công lần thứ nhất mới là cuộc tấn công gay go và thiệt hại nhân mạng nhiều nhất. Cuộc tấn công lần thứ 2 và thứ 3 của Cộng Sản không còn có hiệu quả bao nhiêu vì quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chuẩn bị tinh thần. Hai cuộc tấn công sau Cộng Sản đánh cốt để duy trì tiếng vang đối với quốc tế và làm xáo trộn cuộc sống bình thường của người dân.
Bất chấp lệnh hưu chiến, Ðêm 30 Tết, Cộng Sản ra lệnh tấn công 6 tỉnh lỵ và thị trấn gồm Quảng Ngãi, Kontum, Pleiku, Bình Ðịnh, Darlac và Khánh Hòa. Ðây chính là sự mở màn cho cuộc tổng tấn công lần thứ nhất. Sang mồng Một Tết, Cộng Sản tổng tấn công thêm 8 tỉnh lỵ và thị trấn gồm Ðô Thành Sài Gòn, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Vĩnh Long và Phong Dinh. Những ngày sau, Cộng quân lần lượt tấn công hầu hết các tỉnh ở miền Nam. Cuộc tấn công lần này nhắm vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa hơn là quân đội Ðồng Minh. Theo Khối Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa do Trung Tá Phạm Văn Sơn biên soạn và ấn hành vào tháng 8 năm 1968, trong cuộc tổng tấn công đợt 1 của Cộng Sản thì có 28 tỉnh lỵ và thị trấn Việt Nam Cộng Hòa bị tấn công. 18 tỉnh lỵ và thị trấn còn lại rất yên tỉnh hoặc bị tấn công không đáng kể. Sáng ngày 10 tháng 2, 1968, quân đội Việt Nam Cộng Hòa làm chủ được tình hình và bắt đầu phản công lại, lần lượt đẩy lui Cộng quân ra khỏi các thành phố. Riêng Cố Ðố Huế, trận chiến kéo dài 26 ngày đem lại thiệt hại nhiều nhất cho cả quân đội Bắc Việt, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng như những thường dân tại Huế.
Tối Thứ Bảy 17 tháng 2, 1968, Cộng quân mở cuộc tổng tấn công lần thứ 2. Khác với lần trước, lần này chúng pháo kích vào 47 thị trấn, vào phi trường Tân Sơn Nhất, và pháo kích vào các cơ doanh của quân đội Ðồng Minh, nhất là quân đội Hoa Kỳ. Sau đó, họ cũng tấn công bằng Bộ Binh, nhưng rất lẻ tẻ. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phối hợp với quân Ðồng Minh nhanh chóng làm chủ tình hình.
Tối ngày 5 tháng 3, Cộng quân mở đợt tổng tấn công lần thứ 3. Hậu Giang và Cà Mau là hai nơi bị tấn công nhiều nhất. Lần này, Cộng quân pháo kích vào phi trường Cam Ranh làm hư hại nhẹ đường bay. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa nhanh chóng phản công, đẩy Cộng quân rút lui.
Ðầu tháng 3 năm 1968, để tái lập lại sinh hoạt bình thường của chính quyền cũng như của người dân, quân đội Ðồng Minh, nhất là quân đội Hoa Kỳ, đã phối hợp với quân đội Việt Nam Cộng Hòa mở hai chiến dịch “Quyết Thắng” và “Trương Công Ðịnh” để tảo thanh lực lượng Cộng Quân. Chiến dịch Quyết Thắng tập trung ở thủ đô Sài Gòn và những tỉnh lân cận, nhưng chiến dịch này không đạt được nhiều thành quả vì chủ lực của Cộng Quân tránh né không va chạm với quân đội Ðồng Minh và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Chiến dịch Trương Công Ðịnh mở ra tại vùng Hậu Giang thành công khá tốt đẹp, làm thiệt hại nhiều nhân mạng đối với Cộng quân.
Riêng Cố Ðô Huế, sau khi Cộng Quân làm chủ tình hình tại đây được 6 ngày, quân đội Việt Nam Cộng Hòa phối hợp với quân đội Hoa Kỳ bắt đầu phản công lại. Lực lượng VNCH gồm: Chiến Ðoàn 1 Nhảy Dù với 3 tiểu đoàn và 1 chi đoàn thiết vận xa; Tiểu đoàn Nhảy Dù 2 và 7 được yểm trợ bởi Chi đoàn thiết vận xa xuất phát từ Thành Nội tiến vào; Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù được trực thăng vận từ Quảng Trị đến thành Mang Cá vào chiều ngày 4 Tết để từ đó tiến vào Thành Nội; Chiến đoàn Dù còn được tăng cường bởi các đơn vị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh để giải tỏa khu vực tả ngạn sông Hương. Lực Lượng Hoa Kỳ gồm: Tiểu đoàn 2/5 Thủy Quân Lục Chiến có 3 đại đội và một chi đoàn chiến xa xuất phát từ cứ điểm MACV ở Thừa Thiên; Chiến đoàn RAY gồm hai đại đội Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ xuất phát từ đầu cầu An Cựu; Và sư đoàn 1 Không Vận Hoa Kỳ đưa từ An Khê ra trước Tết để ứng phó với tình hình chiến sự tại Khe Sanh nay bổ sung vào lực lượng tái chiếm Cố Ðô Huế. Lực lượng Hoa Kỳ được phân công giải tỏa khu vực hữu ngạn sông Hương. Lúc 4 giờ sáng ngày 24 tháng 2, lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị triệt hạ trên vòm trời Cố Ðô Huế để thay thế vào đó là lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ thân yêu. Sau đó, Thủy Quân Lục Chiến VNCH tiến vào thành Ðại Nội. Ngày 25/2, Biệt Ðộng Quân VNCH kiểm soát hoàn toàn khu Gia Hội.
II Những Thiệt Hại Của Hai Bên
Tổng kết thiệt hại nhân mạng vào Tết Mậu Thân, bên phía Cộng Sản được ước tính trên 55 ngàn người. Con số Cộng quân bị bắt sống khoảng 10 ngàn người. Con số Cộng quân bị thương rất là nhiều nhưng Cộng Sản Việt Nam không hề tiết lộ, và những người bị thương sau này bị Hà Nội để cho chết dần mòn vì không có thuốc men cứu chữa. Ða số những người bị bắt, bị thương hoặc bị tử thương là những quân nhân trẻ trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Ai cũng biết MTGPMN là công cụ của Cộng Sản Bắc Việt sử dụng để ngụy tạo chính nghĩa tấn chiếm miền Nam. Nhưng, CSBV sợ không còn khả năng kiểm soát MTGPMN nên chúng khôn khéo dùng đợt Tổng Tấn Công Mậu Thân để cố tình “thí” cho MTGPMN chết bớt nhân số hầu sau này MTGPMN không còn đủ lực gây trở ngại cho họ! Vô số vũ khí của Cộng quân bị tịch thu. Có lẽ thiệt hại nặng nề nhất cho Cộng Sản là nhiều cơ sở nằm vùng của họ tại các địa phương bị phá vỡ. Cộng Sản bị tê liệt một thời gian. Họ liền cấp tốc xây dựng lại hạ tầng cơ sở nằm vùng vì nhờ những cơ sở này họ mới có thể hoạt động hữu hiệu. Tuy nhiên, sau trận Mậu Thân, Cộng Sản thành công vượt bực trên quốc tế vận.
Bên phía VNCH thiệt mạng hơn 5 ngàn, bị mất tích khoảng 1 ngàn và bị thương khoảng 15 ngàn. Bên phía Ðồng Minh bị thiệt mạng hơn 4 ngàn, bị thương khoảng 19 ngàn, và bị mất tích khoảng 500 người. Thường dân Việt Nam bị sát hại trên 14 ngàn, trong đó có khoảng 5 ngàn người bị Cộng quân chôn sống tập thể hoặc bị giết cách dã man và tàn bạo tại Huế. Khoảng 24 ngàn thường dân bị thương, 627 ngàn người tỵ nạn, 72 ngàn căn nhà bị hư hại, và vô số thiệt hại về vật chất.
Về phương diện tinh thần, đây là một sự thiệt hại to lớn cho cả đất nước vì giá trị truyền thống của tổ tiên đã bị CSVN lăng nhục đưa đến tận bùn đen. Nhiều gia đình tan nát, bao tang thương nước mắt tuôn chảy không bút mực nào tả xiết. Ðây chính là vết thương sâu đậm của dân tộc Việt Nam.
III Phương Thức Giết Người Rất Thô Bạo Và Dã Man Của CSVN
Khi Cộng quân chiếm được Cố Ðô Huế và làm chủ được tình hình, giai đoạn đầu, chúng cô lập hóa vùng chiếm đóng, chia dân chúng ra từng thành phần: Công chức, quân nhân, cảnh sát, nam phụ lão ấu. Mọi thành phần đều có đại diện. Chúng kiểm tra từng nhà, tịch thu mọi máy radio. Sau đó, chúng tuyên truyền về thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa, và bạo miệng không chút ngượng ngùng nói rằng chúng đã chiếm hết tỉnh Thừa Thiên cũng như toàn miền Nam. Chúng khuyên ai về nhà nấy lo làm ăn, và chuẩn bị long trọng đón các lãnh đạo trong vùng kháng chiến sẽ về Thành Nội nay mai. Giai đoạn hai, chúng kêu gọi các quân nhân và cảnh sát ra nạp vũ khí. Chúng rêu rao những người trình diện và nạp vũ khí sẽ được khoan hồng, bằng không, chúng sẽ thẳng tay trừng trị. Giai đoạn này thường được gọi là “vừa vuốt ve, vừa khủng bố tinh thần.” Sau hai ngày chiếm được Huế, Cộng Sản Việt Nam tiến đến giai đoạn ba. Giai đoạn này chúng kêu gọi các cán bộ quốc gia và đồng bào đi “học tập.” Ðó là giờ định mệnh của các nạn nhân mà họ không hề hay biết trước. Khi đến những địa điểm để chuẩn bị đi “học tập,” lúc màn đêm buông xuống, là những màn giết người tập thể ghê rợn xảy ra. Người ta tìm thấy rải rác khắp nơi những hầm chôn người nhiều nhất ở trường Trung Học Gia Hội, Chùa Tăng Quang Tự, Bãi dâu (30 hầm), và Lăng Tự Ðức (20 hầm).
Những xác đào lên đã cho thấy những người bạc phước ấy bị giết một cách vô cùng dã man như bị chặt đầu, chặt tay trước khi chôn, hoặc bị chôn sống trói cột lại từng chùm từ 10 đến 15 người xô xuống hầm rồi lấp đất lại.
Một trong những hình thức giết người ghê rợn của Cộng Sản được theo tiến trình như sau: Cộng Sản dặn một số người đào một cái hố với lý do cái hố sẽ là cái hầm núp tránh bom khi máy bay Mỹ và VNCH đến bỏ bom. Tin vào lời nói này, những nạn nhân đào cái hố đó. Ðêm đến, Cộng Sản trói hai tay các nạn nhân quặt ra đàng sau, dẫn tới cái hố mà sáng hôm đó các nạn nhân đã đào sẵn, để Ềtiết kiệmỂ đạn dược, Cộng Sản liền lấy xẻng đập vào đầu các nạn nhân, và mặc cho các nạn nhân còn sống hay không, chúng đạp các nạn nhân xuống những cái hố mà chính các nạn nhân đã đào, rồi họ lấy xẻng xúc đất vùi lấp các nạn nhân!
Trong các vụ chôn sống và sát hại có cả những người Tây Phương như hai vợ chồng bác sĩ Hort Gunther Krainich, bác sĩ Raimund Discher, và bác sĩ Alois Alterkoster. Những người này đến Việt Nam để giảng dạy hay để làm những việc nhân đạo, nhưng Cộng Sản cũng không nương tay.
IV Những Nạn Nhân Tết Mậu Thân Là Những Chiến Sĩ Vô Danh, Là Hy Lễ Cứu Giúp Cho Hàng Triệu Sinh Linh Miền Nam Việt Nam Thoát Chết Sau Năm 1975
Việc giết người cách dã man đối với những đồng bào vô tội không một tấc sắt trong tay, nhất là vụ sát hại những người Tây Phương làm việc nhân đạo đã gây nên một luồng căm phẫn khắp nơi trên thế giới. Các tờ báo lớn trên thế giới đã lên án kịch liệt, và gọi đây là một cuộc “tắm máu” của nhân loại (The human race bloodbath). Chính vì việc lên án này nên đã làm cho Cộng Sản Việt Nam chùn bước không dám giết người một cách thẳng tay khi chúng cưỡng chiếm được miền Nam năm 1975. Vì, khi nghe tin Nam Vang thất thủ, các ký giả ngoại quốc đã ví chế độ Pol Pot là chế độ diệt chủng và tắm máu như Cộng Sản Việt Nam làm trong năm Mậu Thân nên khi cưỡng chiếm được quyền lực vào cuối tháng 4, 1975, Cộng Sản Việt Nam cảm thấy nhột dạ. Một khía cạnh nào đó, những nạn nhân trong Tết Mậu Thân đã là những chiến sĩ vô danh, là lễ hy tế hy sinh thay cho hàng triệu con dân Việt Nam sau này. Sau năm 1975, thay vì giết người thẳng tay, Cộng Sản giết người cách gián tiếp, đày đọa hàng triệu người trong những nơi mà chúng gọi là “Trại Cải Tạo” để cho những người này chết dần mòn, vắt kiệt sức lực của họ để làm giàu cho tập đảng sắt máu của chúng. Hai hình thức giết người cũng ghê rợn và phi nhân không kém gì! Nhưng may mắn thay, thời thế thay đổi nên sau hơn một thập niên bị đày đọa, các chiến sĩ đó được Hoa Kỳ đón tiếp để sống cuộc đời còn lại, nhưng con cái họ có cơ may thăng tiến trong xã hội!
V Những Lý Do Giết Người Của CSVN
Tại sao CSVN lại giết người, nhất là giết người cách tập thể và một cách rất là dã man thô bạo? Có nhiều lý do và giả thuyết để cắt nghĩa cho việc này:
Thứ nhất, có người cho rằng các cán bộ lãnh đạo cục “R” được báo cáo người dân miền Nam rất say mê những lãnh tụ “cách mạng,” nhưng khi họ vào Thành Nội, không những dân chúng không reo hò đón mừng họ, dân chúng còn tỏ ra thờ ơ, có kẻ ghét cay ghét đắng quyết chống trả, vì thế các lãnh đạo mới bực mình nổi cơn sát sinh ra lệnh giết người tập thể để trả thù sự thờ ơ của quần chúng cũng như để thỏa mãn thú tính của chúng.
Thứ hai, giai đoạn này Cộng Sản còn đang say mê tin vào lý thuyết giai cấp vô sản nên giết người, nhất là giết người cách tập thể là để loại trừ những giai cấp “tư sản phong kiến” để tiến đến chỉ có giai cấp công nhân trong xã hội.
Thứ ba, giết người là để khủng bố tinh thần những ai chống đối lại họ, nhắn cho họ một tín hiệu liệu hồn mà theo chúng kẻo không sẽ phải chung số phận với những nạn nhân bị giết tập thể.
Thứ tư, giết người, nhất là giết tập thể với hình thức rất dã man thô bạo chỉ vì trong con người Cộng Sản mang bản chất phi nhân, hung bạo và chúng cần giết người để thỏa mãn thú tính đó. Chúng nó chính là một Ðổng Trác trong Tam Quốc Chí hay là một Lê Ngọa Triều của thời đại.
Lời Kết:
Mùa Xuân là sự hy vọng, là niềm vui. Mùa Xuân chân thật của dân tộc chỉ có thể đến với dân Việt Nam khi đất nước và dân tộc Việt Nam có một thể chế Nhân Bản - Dân Chủ - Pháp Trị để người dân được tự do, được cơm no áo ấm. Bao lâu còn Cộng Sản thì bấy lâu dân tộc Việt Nam không có hạnh phúc. Cộng Sản Việt Nam là hiện thân của phi nhân, của tàn bạo mà Mậu Thân chính là bằng chứng hùng hồn tố giác bản chất đó của chúng. Chúng ta không còn con đường nào khác là phải tranh đấu hết khả năng và bằng mọi biện pháp giải thể chế độ sắt máu này thì dân tộc và đất nước ta mới có ngày tươi sáng, mới hưởng được một mùa Xuân chân chính./.
Ls. Hoàng Duy Hùng
Tháng 12 năm 1997, Cộng Sản Việt Nam tổ chức tưởng niệm 25 năm thành phố Hà Nội bị Mỹ dội bom để đánh động lương tâm người Mỹ mặc cảm là người hiếu sát, và qua cơ hội này, chúng móc tiền của người Mỹ. Lương tâm người Mỹ áy náy, viện trợ nhân đạo cho Hà Nội để xoa dịu nỗi khổ những nạn nhân chiến tranh. Số tiền này vào túi các cán bộ cao cấp và không hề đến tay những nạn nhân. Trung tuần tháng Giêng 1998, Hà Nội lại tổ chức kỷ niệm 25 năm Giải Hòa Bình Nobel “ban tặng” cho Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ để rêu rao rằng họ là những người hiếu hòa, nhưng trong thực tế, sau Hội Nghị Paris năm 1973, chính họ là những người đã xé hiệp ước và tấn công cưỡng chiếm toàn thể miền Nam Việt Nam năm 1975. Chúng không có chút ngượng ngạo trước bản chất lường gạt dối trá đó của chúng, mà còn cho đó là một vinh dự vì đã biết sử dụng những ma thuật trong chính trị để lường gạt dân chúng Việt Nam và cả quốc tế!
Cộng Sản Việt Nam còn ma mãnh hơn nữa khi chúng tìm cách che đậy hành động phi nhân mà chúng đã xúc phạm đến dân tộc Việt Nam trong biến cố Mậu Thân. Là những con người còn lương tri, còn quan tâm với tiền đồ dân tộc, bắt buộc chúng ta phải lên tiếng lột trần bản chất phi nhân đó của Cộng Sản, tranh đấu buộc ÐCSVN phải nhận tội và xin tội với dân tộc cũng như phải trả lại quyền tự quyết cho dân tộc. Việc làm này của chúng ta có 3 ý nghĩa:
1/ Cầu cho quốc thái dân an, kính mong quốc tổ và các vị liệt tổ liệt tôn thánh hóa lại những ngày linh thiêng của đầu năm để đi đúng với tình tự và truyền thống dân tộc mà Cộng Sản Việt Nam đã làm hoen ố;
2/ Cầu nguyện cho các oan hồn đã chết trong dịp Mậu Thân, nhất là những oan hồn bị chôn sống tập thể, được siêu thoát, nhờ đó họ sẽ cầu nguyện và hộ phù cho đất nước sớm được thịnh trị ấm no trong một thể chế Dân Chủ - Pháp Trị - Nhân Bản;
3/ Lột trần bản chất phi nhân và những thủ đoạn độc ác của Cộng Sản Viêt Nam để cho dân Việt Nam và cả thế giới nhận rõ đảng Cộng Sản Việt Nam là một tập đoàn sắt máu, hiếu chiến và diệt chủng, từ đó toàn dân có thêm nghị lực tranh đấu giải thể chế độ phi nhân này.
Phong tục và tập quán của người Việt Nam từ ngàn xưa lúc nào cũng trân quý những ngày đầu năm. Ðối với người Việt, Tết Nguyên Ðán là những ngày linh thiêng nhất của dân tộc. Những ngày này được dành riêng để làm lễ cúng bái tổ tiên, cầu an cho tổ quốc, làng xã và gia đình. Những ngày này chính là những ngày của niềm vui, của hạnh phúc cho mọi lứa tuổi và cho mọi thành phần trong xã hội. Mọi tranh chấp hay thù hiềm đều được kiêng cử trong những ngày đầu năm. Lúc xưa, Vua Quang Trung, khi tiến công đánh quân Thanh giải phóng đất nước, ngài đã cho quân lính nghỉ ăn Tết trước, vì, những ngày khác có thể bỏ quên, nhưng, những ngày Tết thì không thể thiếu xót hoặc bị làm nhơ nhuốc được.
Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt, những ngày linh thiêng nhất của dân tộc đã bị ÐCSVN bôi nhọ làm lem luốc tới tận bùn đen. Năm 1968, tức năm Mậu Thân, đúng Ðêm Giao Thừa, Cộng Sản Việt Nam mở chiến dịch tổng tấn công miền Nam Việt Nam và giết chết hàng vạn người dân vô tội. Những bộ đội của chúng, vì thời cuộc, vì nhận chỉ thị cấp trên, đã xung trận và hàng vạn thanh niên bộ đội đã gục ngã cho một cuộc chiến phi nhân. Cộng Sản Việt Nam không còn kiêng khem gì những ngày Tết mà tổ tiên đã bao công sức vun bồi trở thành những tập quán và truyền thống đi vào trong giòng sinh mệnh của dân tộc.
I Những Diễn Tiến Trong Những Ngày Ðầu Năm Mậu Thân
Chiều ngày 20 tháng 1, 1968, trước Tết 10 ngày, để đánh lạc hướng các chiến lược gia Việt Nam Cộng Hòa và các chiến lược gia phe Ðồng Minh, Cộng Sản pháo kích và tấn công mạnh mẽ bằng bộ binh vào Khe Sanh. Khe Sanh là một trọng điểm chiến lược chặn ngang đường xâm nhập của quân Cộng Sản vào Vùng 1 Chiến Thuật nằm ở ngã ba biên giới Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam và Lào. Khe Sanh cách con sông Bến Hải không xa, và cách Cồn Tiên khoảng 30 cây số. Có khoảng 6000 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trấn đóng tại đây. Cuộc tấn công vào Khe Sanh đã khiến ngay từ đầu 20 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bị chết và 109 người bị thương. Vì sự tấn công của Cộng quân vào Khe Sanh, lệnh hưu chiến trong dịp Tết trước định 48 giờ thì rút lại còn 36 tiếng. Lệnh hưu chiến có giá trị từ 18 giờ ngày 29 tháng 1 đến 06 giờ ngày 31 tháng 1, tức là từ đêm 30 Tết và trọn ngày Mồng Một Tết Nguyên Ðán.
Có 3 đợt tấn công quy mô của Cộng Quân vào các tỉnh lỵ và thị trấn miền Nam. Cuộc tấn công thứ nhất bắt đầu từ đêm 30 Tết, tức ngày 29 tháng 1 đến ngày 10 tháng 2. Cuộc tấn công lần thứ hai từ ngày 17 đến ngày 25 tháng 2. Và cuộc tấn công lần thứ ba vào tối ngày 5 tháng 3. Cuộc tấn công lần thứ nhất mới là cuộc tấn công gay go và thiệt hại nhân mạng nhiều nhất. Cuộc tấn công lần thứ 2 và thứ 3 của Cộng Sản không còn có hiệu quả bao nhiêu vì quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chuẩn bị tinh thần. Hai cuộc tấn công sau Cộng Sản đánh cốt để duy trì tiếng vang đối với quốc tế và làm xáo trộn cuộc sống bình thường của người dân.
Bất chấp lệnh hưu chiến, Ðêm 30 Tết, Cộng Sản ra lệnh tấn công 6 tỉnh lỵ và thị trấn gồm Quảng Ngãi, Kontum, Pleiku, Bình Ðịnh, Darlac và Khánh Hòa. Ðây chính là sự mở màn cho cuộc tổng tấn công lần thứ nhất. Sang mồng Một Tết, Cộng Sản tổng tấn công thêm 8 tỉnh lỵ và thị trấn gồm Ðô Thành Sài Gòn, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Vĩnh Long và Phong Dinh. Những ngày sau, Cộng quân lần lượt tấn công hầu hết các tỉnh ở miền Nam. Cuộc tấn công lần này nhắm vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa hơn là quân đội Ðồng Minh. Theo Khối Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa do Trung Tá Phạm Văn Sơn biên soạn và ấn hành vào tháng 8 năm 1968, trong cuộc tổng tấn công đợt 1 của Cộng Sản thì có 28 tỉnh lỵ và thị trấn Việt Nam Cộng Hòa bị tấn công. 18 tỉnh lỵ và thị trấn còn lại rất yên tỉnh hoặc bị tấn công không đáng kể. Sáng ngày 10 tháng 2, 1968, quân đội Việt Nam Cộng Hòa làm chủ được tình hình và bắt đầu phản công lại, lần lượt đẩy lui Cộng quân ra khỏi các thành phố. Riêng Cố Ðố Huế, trận chiến kéo dài 26 ngày đem lại thiệt hại nhiều nhất cho cả quân đội Bắc Việt, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng như những thường dân tại Huế.
Tối Thứ Bảy 17 tháng 2, 1968, Cộng quân mở cuộc tổng tấn công lần thứ 2. Khác với lần trước, lần này chúng pháo kích vào 47 thị trấn, vào phi trường Tân Sơn Nhất, và pháo kích vào các cơ doanh của quân đội Ðồng Minh, nhất là quân đội Hoa Kỳ. Sau đó, họ cũng tấn công bằng Bộ Binh, nhưng rất lẻ tẻ. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phối hợp với quân Ðồng Minh nhanh chóng làm chủ tình hình.
Tối ngày 5 tháng 3, Cộng quân mở đợt tổng tấn công lần thứ 3. Hậu Giang và Cà Mau là hai nơi bị tấn công nhiều nhất. Lần này, Cộng quân pháo kích vào phi trường Cam Ranh làm hư hại nhẹ đường bay. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa nhanh chóng phản công, đẩy Cộng quân rút lui.
Ðầu tháng 3 năm 1968, để tái lập lại sinh hoạt bình thường của chính quyền cũng như của người dân, quân đội Ðồng Minh, nhất là quân đội Hoa Kỳ, đã phối hợp với quân đội Việt Nam Cộng Hòa mở hai chiến dịch “Quyết Thắng” và “Trương Công Ðịnh” để tảo thanh lực lượng Cộng Quân. Chiến dịch Quyết Thắng tập trung ở thủ đô Sài Gòn và những tỉnh lân cận, nhưng chiến dịch này không đạt được nhiều thành quả vì chủ lực của Cộng Quân tránh né không va chạm với quân đội Ðồng Minh và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Chiến dịch Trương Công Ðịnh mở ra tại vùng Hậu Giang thành công khá tốt đẹp, làm thiệt hại nhiều nhân mạng đối với Cộng quân.
Riêng Cố Ðô Huế, sau khi Cộng Quân làm chủ tình hình tại đây được 6 ngày, quân đội Việt Nam Cộng Hòa phối hợp với quân đội Hoa Kỳ bắt đầu phản công lại. Lực lượng VNCH gồm: Chiến Ðoàn 1 Nhảy Dù với 3 tiểu đoàn và 1 chi đoàn thiết vận xa; Tiểu đoàn Nhảy Dù 2 và 7 được yểm trợ bởi Chi đoàn thiết vận xa xuất phát từ Thành Nội tiến vào; Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù được trực thăng vận từ Quảng Trị đến thành Mang Cá vào chiều ngày 4 Tết để từ đó tiến vào Thành Nội; Chiến đoàn Dù còn được tăng cường bởi các đơn vị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh để giải tỏa khu vực tả ngạn sông Hương. Lực Lượng Hoa Kỳ gồm: Tiểu đoàn 2/5 Thủy Quân Lục Chiến có 3 đại đội và một chi đoàn chiến xa xuất phát từ cứ điểm MACV ở Thừa Thiên; Chiến đoàn RAY gồm hai đại đội Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ xuất phát từ đầu cầu An Cựu; Và sư đoàn 1 Không Vận Hoa Kỳ đưa từ An Khê ra trước Tết để ứng phó với tình hình chiến sự tại Khe Sanh nay bổ sung vào lực lượng tái chiếm Cố Ðô Huế. Lực lượng Hoa Kỳ được phân công giải tỏa khu vực hữu ngạn sông Hương. Lúc 4 giờ sáng ngày 24 tháng 2, lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị triệt hạ trên vòm trời Cố Ðô Huế để thay thế vào đó là lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ thân yêu. Sau đó, Thủy Quân Lục Chiến VNCH tiến vào thành Ðại Nội. Ngày 25/2, Biệt Ðộng Quân VNCH kiểm soát hoàn toàn khu Gia Hội.
II Những Thiệt Hại Của Hai Bên
Tổng kết thiệt hại nhân mạng vào Tết Mậu Thân, bên phía Cộng Sản được ước tính trên 55 ngàn người. Con số Cộng quân bị bắt sống khoảng 10 ngàn người. Con số Cộng quân bị thương rất là nhiều nhưng Cộng Sản Việt Nam không hề tiết lộ, và những người bị thương sau này bị Hà Nội để cho chết dần mòn vì không có thuốc men cứu chữa. Ða số những người bị bắt, bị thương hoặc bị tử thương là những quân nhân trẻ trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Ai cũng biết MTGPMN là công cụ của Cộng Sản Bắc Việt sử dụng để ngụy tạo chính nghĩa tấn chiếm miền Nam. Nhưng, CSBV sợ không còn khả năng kiểm soát MTGPMN nên chúng khôn khéo dùng đợt Tổng Tấn Công Mậu Thân để cố tình “thí” cho MTGPMN chết bớt nhân số hầu sau này MTGPMN không còn đủ lực gây trở ngại cho họ! Vô số vũ khí của Cộng quân bị tịch thu. Có lẽ thiệt hại nặng nề nhất cho Cộng Sản là nhiều cơ sở nằm vùng của họ tại các địa phương bị phá vỡ. Cộng Sản bị tê liệt một thời gian. Họ liền cấp tốc xây dựng lại hạ tầng cơ sở nằm vùng vì nhờ những cơ sở này họ mới có thể hoạt động hữu hiệu. Tuy nhiên, sau trận Mậu Thân, Cộng Sản thành công vượt bực trên quốc tế vận.
Bên phía VNCH thiệt mạng hơn 5 ngàn, bị mất tích khoảng 1 ngàn và bị thương khoảng 15 ngàn. Bên phía Ðồng Minh bị thiệt mạng hơn 4 ngàn, bị thương khoảng 19 ngàn, và bị mất tích khoảng 500 người. Thường dân Việt Nam bị sát hại trên 14 ngàn, trong đó có khoảng 5 ngàn người bị Cộng quân chôn sống tập thể hoặc bị giết cách dã man và tàn bạo tại Huế. Khoảng 24 ngàn thường dân bị thương, 627 ngàn người tỵ nạn, 72 ngàn căn nhà bị hư hại, và vô số thiệt hại về vật chất.
Về phương diện tinh thần, đây là một sự thiệt hại to lớn cho cả đất nước vì giá trị truyền thống của tổ tiên đã bị CSVN lăng nhục đưa đến tận bùn đen. Nhiều gia đình tan nát, bao tang thương nước mắt tuôn chảy không bút mực nào tả xiết. Ðây chính là vết thương sâu đậm của dân tộc Việt Nam.
III Phương Thức Giết Người Rất Thô Bạo Và Dã Man Của CSVN
Khi Cộng quân chiếm được Cố Ðô Huế và làm chủ được tình hình, giai đoạn đầu, chúng cô lập hóa vùng chiếm đóng, chia dân chúng ra từng thành phần: Công chức, quân nhân, cảnh sát, nam phụ lão ấu. Mọi thành phần đều có đại diện. Chúng kiểm tra từng nhà, tịch thu mọi máy radio. Sau đó, chúng tuyên truyền về thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa, và bạo miệng không chút ngượng ngùng nói rằng chúng đã chiếm hết tỉnh Thừa Thiên cũng như toàn miền Nam. Chúng khuyên ai về nhà nấy lo làm ăn, và chuẩn bị long trọng đón các lãnh đạo trong vùng kháng chiến sẽ về Thành Nội nay mai. Giai đoạn hai, chúng kêu gọi các quân nhân và cảnh sát ra nạp vũ khí. Chúng rêu rao những người trình diện và nạp vũ khí sẽ được khoan hồng, bằng không, chúng sẽ thẳng tay trừng trị. Giai đoạn này thường được gọi là “vừa vuốt ve, vừa khủng bố tinh thần.” Sau hai ngày chiếm được Huế, Cộng Sản Việt Nam tiến đến giai đoạn ba. Giai đoạn này chúng kêu gọi các cán bộ quốc gia và đồng bào đi “học tập.” Ðó là giờ định mệnh của các nạn nhân mà họ không hề hay biết trước. Khi đến những địa điểm để chuẩn bị đi “học tập,” lúc màn đêm buông xuống, là những màn giết người tập thể ghê rợn xảy ra. Người ta tìm thấy rải rác khắp nơi những hầm chôn người nhiều nhất ở trường Trung Học Gia Hội, Chùa Tăng Quang Tự, Bãi dâu (30 hầm), và Lăng Tự Ðức (20 hầm).
Những xác đào lên đã cho thấy những người bạc phước ấy bị giết một cách vô cùng dã man như bị chặt đầu, chặt tay trước khi chôn, hoặc bị chôn sống trói cột lại từng chùm từ 10 đến 15 người xô xuống hầm rồi lấp đất lại.
Một trong những hình thức giết người ghê rợn của Cộng Sản được theo tiến trình như sau: Cộng Sản dặn một số người đào một cái hố với lý do cái hố sẽ là cái hầm núp tránh bom khi máy bay Mỹ và VNCH đến bỏ bom. Tin vào lời nói này, những nạn nhân đào cái hố đó. Ðêm đến, Cộng Sản trói hai tay các nạn nhân quặt ra đàng sau, dẫn tới cái hố mà sáng hôm đó các nạn nhân đã đào sẵn, để Ềtiết kiệmỂ đạn dược, Cộng Sản liền lấy xẻng đập vào đầu các nạn nhân, và mặc cho các nạn nhân còn sống hay không, chúng đạp các nạn nhân xuống những cái hố mà chính các nạn nhân đã đào, rồi họ lấy xẻng xúc đất vùi lấp các nạn nhân!
Trong các vụ chôn sống và sát hại có cả những người Tây Phương như hai vợ chồng bác sĩ Hort Gunther Krainich, bác sĩ Raimund Discher, và bác sĩ Alois Alterkoster. Những người này đến Việt Nam để giảng dạy hay để làm những việc nhân đạo, nhưng Cộng Sản cũng không nương tay.
IV Những Nạn Nhân Tết Mậu Thân Là Những Chiến Sĩ Vô Danh, Là Hy Lễ Cứu Giúp Cho Hàng Triệu Sinh Linh Miền Nam Việt Nam Thoát Chết Sau Năm 1975
Việc giết người cách dã man đối với những đồng bào vô tội không một tấc sắt trong tay, nhất là vụ sát hại những người Tây Phương làm việc nhân đạo đã gây nên một luồng căm phẫn khắp nơi trên thế giới. Các tờ báo lớn trên thế giới đã lên án kịch liệt, và gọi đây là một cuộc “tắm máu” của nhân loại (The human race bloodbath). Chính vì việc lên án này nên đã làm cho Cộng Sản Việt Nam chùn bước không dám giết người một cách thẳng tay khi chúng cưỡng chiếm được miền Nam năm 1975. Vì, khi nghe tin Nam Vang thất thủ, các ký giả ngoại quốc đã ví chế độ Pol Pot là chế độ diệt chủng và tắm máu như Cộng Sản Việt Nam làm trong năm Mậu Thân nên khi cưỡng chiếm được quyền lực vào cuối tháng 4, 1975, Cộng Sản Việt Nam cảm thấy nhột dạ. Một khía cạnh nào đó, những nạn nhân trong Tết Mậu Thân đã là những chiến sĩ vô danh, là lễ hy tế hy sinh thay cho hàng triệu con dân Việt Nam sau này. Sau năm 1975, thay vì giết người thẳng tay, Cộng Sản giết người cách gián tiếp, đày đọa hàng triệu người trong những nơi mà chúng gọi là “Trại Cải Tạo” để cho những người này chết dần mòn, vắt kiệt sức lực của họ để làm giàu cho tập đảng sắt máu của chúng. Hai hình thức giết người cũng ghê rợn và phi nhân không kém gì! Nhưng may mắn thay, thời thế thay đổi nên sau hơn một thập niên bị đày đọa, các chiến sĩ đó được Hoa Kỳ đón tiếp để sống cuộc đời còn lại, nhưng con cái họ có cơ may thăng tiến trong xã hội!
V Những Lý Do Giết Người Của CSVN
Tại sao CSVN lại giết người, nhất là giết người cách tập thể và một cách rất là dã man thô bạo? Có nhiều lý do và giả thuyết để cắt nghĩa cho việc này:
Thứ nhất, có người cho rằng các cán bộ lãnh đạo cục “R” được báo cáo người dân miền Nam rất say mê những lãnh tụ “cách mạng,” nhưng khi họ vào Thành Nội, không những dân chúng không reo hò đón mừng họ, dân chúng còn tỏ ra thờ ơ, có kẻ ghét cay ghét đắng quyết chống trả, vì thế các lãnh đạo mới bực mình nổi cơn sát sinh ra lệnh giết người tập thể để trả thù sự thờ ơ của quần chúng cũng như để thỏa mãn thú tính của chúng.
Thứ hai, giai đoạn này Cộng Sản còn đang say mê tin vào lý thuyết giai cấp vô sản nên giết người, nhất là giết người cách tập thể là để loại trừ những giai cấp “tư sản phong kiến” để tiến đến chỉ có giai cấp công nhân trong xã hội.
Thứ ba, giết người là để khủng bố tinh thần những ai chống đối lại họ, nhắn cho họ một tín hiệu liệu hồn mà theo chúng kẻo không sẽ phải chung số phận với những nạn nhân bị giết tập thể.
Thứ tư, giết người, nhất là giết tập thể với hình thức rất dã man thô bạo chỉ vì trong con người Cộng Sản mang bản chất phi nhân, hung bạo và chúng cần giết người để thỏa mãn thú tính đó. Chúng nó chính là một Ðổng Trác trong Tam Quốc Chí hay là một Lê Ngọa Triều của thời đại.
Lời Kết:
Mùa Xuân là sự hy vọng, là niềm vui. Mùa Xuân chân thật của dân tộc chỉ có thể đến với dân Việt Nam khi đất nước và dân tộc Việt Nam có một thể chế Nhân Bản - Dân Chủ - Pháp Trị để người dân được tự do, được cơm no áo ấm. Bao lâu còn Cộng Sản thì bấy lâu dân tộc Việt Nam không có hạnh phúc. Cộng Sản Việt Nam là hiện thân của phi nhân, của tàn bạo mà Mậu Thân chính là bằng chứng hùng hồn tố giác bản chất đó của chúng. Chúng ta không còn con đường nào khác là phải tranh đấu hết khả năng và bằng mọi biện pháp giải thể chế độ sắt máu này thì dân tộc và đất nước ta mới có ngày tươi sáng, mới hưởng được một mùa Xuân chân chính./.
Nạn nhân thuốc khai quang!
Nạn nhân thuốc khai quang!
Date: Wednesday, November 23 @ 23:00:00 CET
Topic: Tham Luận - Innlegg
letamanh
Bấy lâu nay, người ta, toàn thể những người biết chuyện, đều rất khó chịu khi thấy anh chàng "Chí Phèo" Bắc Triều Tiên làm nũng với Papa Cờ Hoa! Biết rằng cái ông nhà giàu Chú Sam đang muốn làm trùm thiên hạ, nên chú Chí Phèo họ Kim bèn chơi một màn đánh bài liều! Thế mà lại ếp phê mới chết chứ! ...
... Chả là ông phú hộ đang mắc kẹt ở Iraq và vùng Trung Đông, muốn rảnh tay một vài nơi; vì thế chú nhãi con họ Kim mới có cơ bắt bí. Cái gọi là bàn hội nghị sáu bên, kê sáu cái ghế vòng tròn không làm cho chú họ Kim thích bằng cái bàn chỉ có hai ghế. Họ Kim muốn ngồi đối diện với ông phú hộ, không cần đến các đối tác khác! Nếu được như vậy, chú mới có cơ làm nũng, làm điệu với ông phú hộ theo cái kiểu Điêu Thuyền hí Lữ Bố chứ! Nhưng cuối cùng Chí Phèo cũng phải chịu phép, nghe lời anh Ba Tàu, đồng ý với sáu cái ghế nhì nhà nhì nhằng bớ một thêm hai...
Câu chuyện chú Chí Phèo họ Kim xứ Bắc Củ Sâm làm cho chị Doãn Việt Nam cảm thấy bức rứt, cảm thấy thèm thuồng, muốn bắt chước nằm phơi của nợ la làng. Số là chị Doãn khi xưa cũng bập bẹ tiếng Tây năm ba chữ, cũng làm tình làm tội cái anh Phú Lang Sa, anh Cờ Hoa, một thời trúng mánh... Ngày nay cũng phải vùng lên chứ! Chị Doãn muốn ông phú hộ nhà Sam phải nể mặt giống như Chí Phèo đang làm. Nên chị ta bèn cho lập ra một ban nghiên cứu về cái gọi là chất độc màu da cam. Vốn khi xưa chú Sam cho xịt chất nầy vào trong rừng, những nơi có mấy em du kích và bộ đội miền Bắc xâm nhập. Mục đích của thuốc là làm cho lá cây rụng, không còn rậm rạp để có thể là nơi cư trú, làm chiến khu và xâm nhập của ý đồ chị Doãn thời đó!
Chú Sam cho máy bay xịt thuốc xuống các khu rừng miền Nam, lòng vòng trên các khu đóng quân của QLVNCH. Lúc ấy lính Mỹ cũng có các đồn bót chạy dọc theo sườn của dãy Trường Sơn. Thuốc khai quang cứ ngày đêm được rưới lên đầu, trước hết là người lính Dù, Thủy Quân lục Chiến, Biệt Kích, các Sư đoàn, các đồn bót của Địa Phương Quân, Nghĩa Quân... và có thể là các xóm thôn hẻo lánh thuộc lãnh thổ miền Nam Việt Nam! Nếu chất độc ấy làm tổn thương và gây ra các bệnh liên quan đến dị tật hay tăng cao bệnh ung thư cho con người... Thì những kẻ lãnh đạn trước nhất phải là người lính QLVNCH cùng với gia đình của họ!
Lúc ấy, cái thời chiến tranh, chẳng có ông CS nào ở miền Bắc công nhận có quân Bắc Việt nào vào Nam chiến đấu cả, chẳng có một tên lính nào made in Quân đội Nhân Dân vào Nam chống Mỹ cứu nước(!). Người ta lúc nào cũng lặp đi lặp lại luận điệu rằng người dân miền Nam đứng lên chống Mỹ, lập ra cái gọi là MTGPMN. Chị Doãn chối bai bải không bao giờ có lính của chị vượt tuyến vào Nam mà chị chỉ là ủng hộ và yểm trợ(?) Thế mà cả thế giới đều tin, cả con nhà truyền thông báo chí thế giới và ngay người Mỹ cũng tin như thế!
Nếu cái gọi là thuốc khai quang có mang chất độc làm cho con người bị nhiễm và di truyền các bệnh tật lưu niên từ thời nầy đến đời khác thì trước hết và bị nhiễm, bị bệnh nhiều nhất phải nói đến người chiến sĩ thuộc quân lực VNCH. Người chiến sĩ VNCH bị máy bay Mỹ trút chất khai quang trực tiếp và bị hít thở, ăn uống liên quan đến môi trường sống hơn ai hết! Nếu phải kiện chính phủ Mỹ hay các công ty làm hóa chất khai quan chứa chất độc da cam làm ô nhiễm môi trường, gây tác hại dài lâu cho dân tộc, đặc biệt tại miền Nam Việt Nam... Thì đơn kiện phải do đại diện QLVNCH đứng tên nguyên cáo chứ không phải là chị Doãn!
Nếu người Mỹ họ truy tìm được chất độc da cam phun ra trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, gây cho hàng triệu người miền Bắc nhiễm độc thì là chuyện khác, chị Doãn có thể lấy cái lý đó mà kiện. Đàng nầy, theo hiệp định Genève, chẳng có cái mục nào cho phép chị đem quân xâm nhập vào Nam để chiếm đất làm căn cứ và cũng chẳng có mục nào cho phép chị chơi trò bài ba lá! Lính Bắc Việt ngày nay la làng lên rằng thì là bị bệnh kéo dài cho tới ba chục năm trên thân thể cháu con vì chất da cam. Như thế nếu tra cứu cho đến nơi đến chốn thì rõ ràng chị Doãn đã gạt chú Sam và cả thế giới ngay trên hiệp định Paris! Sao chú Sam dại thế nhỉ, Chú Sam ngu thế sao?
Vụ kiện nầy nghe nói đã chìm xuồng, ông Tòa không chấp nhận đơn kiện. Nhưng có thể người giám hộ made in France đang ghét cay ghét đắng Chú Sam, sẽ xúi chị Doãn theo đuổi vụ kiện lên tòa trên... Nếu trời không có mắt, chị Doãn sau nầy thắng kiện thì sao nhĩ? Nếu vụ kiện mà đi đến kết luận phải bồi thường cho nạn nhân... Thì người lính VNCH phải có phần chứ! Chúng ta hãy chuẨn bị thành lập một Ủy Ban đặc trách việc truy tìm tác hại chất độc da cam lên thân thể, di truyền trong từng vùng tại nơi chúng ta đóng quân thời đó. Không thể để cho những anh chàng thâm nhập vào Nam đánh chiếm, ăn cướp theo kiểu coi trời bằng vung nầy ăn trọn. Chú Sam thế nào cũng phải chia cho những con người trực tiếp chịu thiệt thòi, bị rải thuốc khai quang hàng ngày trên đầu là QLVNCH, nếu họ thua vụ kiện!
Kiện không được, làm nũng không xong, chị Doãn bèn nghĩ ra một mánh khác: Cử một Phái Đoàn đến Hoa Kỳ thuyết phục theo hướng làm mủi lòng người trong tình nhân đạo. Trưởng Đoàn là một Bác Sĩ vốn là Cựu Tổng Trưởng Y Tế ! Chuyến nầy Phái Đoàn có đem theo mấy người bị nhiễm và mang bệnh làm bằng chứng. Mục tiêu sẽ là: Bằng mọi cách làm cho dư luận Mỹ rơi nước mắt, tạo một diễn đàn có sức thuyết phục cho việc vòi đô la... Ôm trọn gói về chia chác với nhau! Nhưng nếu có người thử hỏi là: Thuốc khai quang rải ở phía Nam vĩ tuyến 17, sao đa số nạn nhân đi khiếu nại bị hậu quả của nó lại là người ở miền Bắc vĩ tuyến? Nếu trả lời ú ớ thì cái gọi là Hiệp Định Genève 1954 và Hiệp Định Paris 1973 đã bị chị Doãn vi phạm mà Hoa Kỳ cố tình làm lơ, để cho quân đội miền Bắc CS xâm nhập. Đây là bằng chứng rõ ràng lạy ông tôi ở bụi nầy chứ không chối bai bải rằng đó là bộ đội giải phóng vốn là MTGPMN, không có ai từ miền Bắc xâm nhập(?) Nếu lật lại hai cái hiệp định chết toi đó truy xét thì Cộng Sản Việt Nam trả lời ra sao? Thế nhưng: Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu- Gặp thời thế thế thời phải thế.
Không thể nào để cho Chị Doãn thao túng trong thời chiến tranh, bai bải chối không có quân thâm nhập miền Bắc tại miền Nam, chỉ có quân của MTGPMN mà thôi; ngày nay lại lòi ra công khai công nhận và đứng đơn kiện bắt chước Chí Phèo... Nhất định chúng ta, người lính Quân Lực VNCH, là nạn nhân trực tiếp của thuốc khai quang có chất độc da cam, phải cùng chung lưng đấu cật đứng đơn ăn có vụ nầy mới được! Nếu Cộng Sản được đền bù thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải được công bằng. Tại sao cứ để cho chị Doãn ăn trọn nhỉ!
letamanh
http://www.vietnet.no/modules.php?name=News&file=print&sid=1415
• 26/07/2006 - Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và vụ kiện chất độc Da Cam
• 19/07/2006 - về bà Dương Quỳnh Hoa - Mai Thanh Truyết
Date: Wednesday, November 23 @ 23:00:00 CET
Topic: Tham Luận - Innlegg
letamanh
Bấy lâu nay, người ta, toàn thể những người biết chuyện, đều rất khó chịu khi thấy anh chàng "Chí Phèo" Bắc Triều Tiên làm nũng với Papa Cờ Hoa! Biết rằng cái ông nhà giàu Chú Sam đang muốn làm trùm thiên hạ, nên chú Chí Phèo họ Kim bèn chơi một màn đánh bài liều! Thế mà lại ếp phê mới chết chứ! ...
... Chả là ông phú hộ đang mắc kẹt ở Iraq và vùng Trung Đông, muốn rảnh tay một vài nơi; vì thế chú nhãi con họ Kim mới có cơ bắt bí. Cái gọi là bàn hội nghị sáu bên, kê sáu cái ghế vòng tròn không làm cho chú họ Kim thích bằng cái bàn chỉ có hai ghế. Họ Kim muốn ngồi đối diện với ông phú hộ, không cần đến các đối tác khác! Nếu được như vậy, chú mới có cơ làm nũng, làm điệu với ông phú hộ theo cái kiểu Điêu Thuyền hí Lữ Bố chứ! Nhưng cuối cùng Chí Phèo cũng phải chịu phép, nghe lời anh Ba Tàu, đồng ý với sáu cái ghế nhì nhà nhì nhằng bớ một thêm hai...
Câu chuyện chú Chí Phèo họ Kim xứ Bắc Củ Sâm làm cho chị Doãn Việt Nam cảm thấy bức rứt, cảm thấy thèm thuồng, muốn bắt chước nằm phơi của nợ la làng. Số là chị Doãn khi xưa cũng bập bẹ tiếng Tây năm ba chữ, cũng làm tình làm tội cái anh Phú Lang Sa, anh Cờ Hoa, một thời trúng mánh... Ngày nay cũng phải vùng lên chứ! Chị Doãn muốn ông phú hộ nhà Sam phải nể mặt giống như Chí Phèo đang làm. Nên chị ta bèn cho lập ra một ban nghiên cứu về cái gọi là chất độc màu da cam. Vốn khi xưa chú Sam cho xịt chất nầy vào trong rừng, những nơi có mấy em du kích và bộ đội miền Bắc xâm nhập. Mục đích của thuốc là làm cho lá cây rụng, không còn rậm rạp để có thể là nơi cư trú, làm chiến khu và xâm nhập của ý đồ chị Doãn thời đó!
Chú Sam cho máy bay xịt thuốc xuống các khu rừng miền Nam, lòng vòng trên các khu đóng quân của QLVNCH. Lúc ấy lính Mỹ cũng có các đồn bót chạy dọc theo sườn của dãy Trường Sơn. Thuốc khai quang cứ ngày đêm được rưới lên đầu, trước hết là người lính Dù, Thủy Quân lục Chiến, Biệt Kích, các Sư đoàn, các đồn bót của Địa Phương Quân, Nghĩa Quân... và có thể là các xóm thôn hẻo lánh thuộc lãnh thổ miền Nam Việt Nam! Nếu chất độc ấy làm tổn thương và gây ra các bệnh liên quan đến dị tật hay tăng cao bệnh ung thư cho con người... Thì những kẻ lãnh đạn trước nhất phải là người lính QLVNCH cùng với gia đình của họ!
Lúc ấy, cái thời chiến tranh, chẳng có ông CS nào ở miền Bắc công nhận có quân Bắc Việt nào vào Nam chiến đấu cả, chẳng có một tên lính nào made in Quân đội Nhân Dân vào Nam chống Mỹ cứu nước(!). Người ta lúc nào cũng lặp đi lặp lại luận điệu rằng người dân miền Nam đứng lên chống Mỹ, lập ra cái gọi là MTGPMN. Chị Doãn chối bai bải không bao giờ có lính của chị vượt tuyến vào Nam mà chị chỉ là ủng hộ và yểm trợ(?) Thế mà cả thế giới đều tin, cả con nhà truyền thông báo chí thế giới và ngay người Mỹ cũng tin như thế!
Nếu cái gọi là thuốc khai quang có mang chất độc làm cho con người bị nhiễm và di truyền các bệnh tật lưu niên từ thời nầy đến đời khác thì trước hết và bị nhiễm, bị bệnh nhiều nhất phải nói đến người chiến sĩ thuộc quân lực VNCH. Người chiến sĩ VNCH bị máy bay Mỹ trút chất khai quang trực tiếp và bị hít thở, ăn uống liên quan đến môi trường sống hơn ai hết! Nếu phải kiện chính phủ Mỹ hay các công ty làm hóa chất khai quan chứa chất độc da cam làm ô nhiễm môi trường, gây tác hại dài lâu cho dân tộc, đặc biệt tại miền Nam Việt Nam... Thì đơn kiện phải do đại diện QLVNCH đứng tên nguyên cáo chứ không phải là chị Doãn!
Nếu người Mỹ họ truy tìm được chất độc da cam phun ra trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, gây cho hàng triệu người miền Bắc nhiễm độc thì là chuyện khác, chị Doãn có thể lấy cái lý đó mà kiện. Đàng nầy, theo hiệp định Genève, chẳng có cái mục nào cho phép chị đem quân xâm nhập vào Nam để chiếm đất làm căn cứ và cũng chẳng có mục nào cho phép chị chơi trò bài ba lá! Lính Bắc Việt ngày nay la làng lên rằng thì là bị bệnh kéo dài cho tới ba chục năm trên thân thể cháu con vì chất da cam. Như thế nếu tra cứu cho đến nơi đến chốn thì rõ ràng chị Doãn đã gạt chú Sam và cả thế giới ngay trên hiệp định Paris! Sao chú Sam dại thế nhỉ, Chú Sam ngu thế sao?
Vụ kiện nầy nghe nói đã chìm xuồng, ông Tòa không chấp nhận đơn kiện. Nhưng có thể người giám hộ made in France đang ghét cay ghét đắng Chú Sam, sẽ xúi chị Doãn theo đuổi vụ kiện lên tòa trên... Nếu trời không có mắt, chị Doãn sau nầy thắng kiện thì sao nhĩ? Nếu vụ kiện mà đi đến kết luận phải bồi thường cho nạn nhân... Thì người lính VNCH phải có phần chứ! Chúng ta hãy chuẨn bị thành lập một Ủy Ban đặc trách việc truy tìm tác hại chất độc da cam lên thân thể, di truyền trong từng vùng tại nơi chúng ta đóng quân thời đó. Không thể để cho những anh chàng thâm nhập vào Nam đánh chiếm, ăn cướp theo kiểu coi trời bằng vung nầy ăn trọn. Chú Sam thế nào cũng phải chia cho những con người trực tiếp chịu thiệt thòi, bị rải thuốc khai quang hàng ngày trên đầu là QLVNCH, nếu họ thua vụ kiện!
Kiện không được, làm nũng không xong, chị Doãn bèn nghĩ ra một mánh khác: Cử một Phái Đoàn đến Hoa Kỳ thuyết phục theo hướng làm mủi lòng người trong tình nhân đạo. Trưởng Đoàn là một Bác Sĩ vốn là Cựu Tổng Trưởng Y Tế ! Chuyến nầy Phái Đoàn có đem theo mấy người bị nhiễm và mang bệnh làm bằng chứng. Mục tiêu sẽ là: Bằng mọi cách làm cho dư luận Mỹ rơi nước mắt, tạo một diễn đàn có sức thuyết phục cho việc vòi đô la... Ôm trọn gói về chia chác với nhau! Nhưng nếu có người thử hỏi là: Thuốc khai quang rải ở phía Nam vĩ tuyến 17, sao đa số nạn nhân đi khiếu nại bị hậu quả của nó lại là người ở miền Bắc vĩ tuyến? Nếu trả lời ú ớ thì cái gọi là Hiệp Định Genève 1954 và Hiệp Định Paris 1973 đã bị chị Doãn vi phạm mà Hoa Kỳ cố tình làm lơ, để cho quân đội miền Bắc CS xâm nhập. Đây là bằng chứng rõ ràng lạy ông tôi ở bụi nầy chứ không chối bai bải rằng đó là bộ đội giải phóng vốn là MTGPMN, không có ai từ miền Bắc xâm nhập(?) Nếu lật lại hai cái hiệp định chết toi đó truy xét thì Cộng Sản Việt Nam trả lời ra sao? Thế nhưng: Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu- Gặp thời thế thế thời phải thế.
Không thể nào để cho Chị Doãn thao túng trong thời chiến tranh, bai bải chối không có quân thâm nhập miền Bắc tại miền Nam, chỉ có quân của MTGPMN mà thôi; ngày nay lại lòi ra công khai công nhận và đứng đơn kiện bắt chước Chí Phèo... Nhất định chúng ta, người lính Quân Lực VNCH, là nạn nhân trực tiếp của thuốc khai quang có chất độc da cam, phải cùng chung lưng đấu cật đứng đơn ăn có vụ nầy mới được! Nếu Cộng Sản được đền bù thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải được công bằng. Tại sao cứ để cho chị Doãn ăn trọn nhỉ!
letamanh
http://www.vietnet.no/modules.php?name=News&file=print&sid=1415
• 26/07/2006 - Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và vụ kiện chất độc Da Cam
• 19/07/2006 - về bà Dương Quỳnh Hoa - Mai Thanh Truyết
Inscription à :
Articles (Atom)