1.[z-qhx] (H) [qhx] (H) [xhds] (H) [stls] (H) [tacs] (H) [db] (H) [gfv] (H) [news] (H) [TdDcNq] [H] - 2.DOWNLOAD TaiLieu - 3. VUOT TUONG LUA - 4.[Chu Viet] - 5.[Audio] 6.[SuThat] 7.[Thu doan cs d/v Ton giao]

lundi 11 juin 2007

Bệnh tự "bơm vá" cho mình và tệ sùng bái cá nhân

Bệnh tự "bơm vá" cho mình và tệ sùng bái cá nhân không phải căn bệnh mới mẻ với CNXH. Stalin, Mao, Hồ Chí Minh... đều mắc phải:

=============

Tệ sùng bái cá nhân sở dĩ đạt đến mức độ khốc hại là vì chính bản thân Stalin đã dùng mọi phương pháp để thúc đẩy sự tán dương cá nhân mình. Ðiều này đã được vô số sự kiện chứng minh. Một trong những thí dụ tiêu biểu nhất của sự tôn thờ bản thân và sự thiếu khiêm tốn ở mức cơ bản của Stalin là cuốn "Tóm lược tiểu sử Stalin" ấn hành vào năm 1948.(1)

Cuốn sách này là thứ xu nịnh ghê tởm nhất, là điển hình cho việc làm thế nào để biến một người - Stalin - thành một vị thánh sống, một hiền nhân không thể sai lầm, một "lãnh tụ vĩ đại nhất", một "chiến lược gia đại tài của mọi thời đại và mọi dân tộc". Cuối cùng, người ta không tìm nổi từ ngữ để tâng bốc Stalin lên tận mây xanh.

Chẳng cần nói dài dòng về sự tôn sùng thần tượng ghê tởm đầy rẫy trong cuốn sách. Chỉ cần nói rằng tất cả những thứ nói trên đã được Stalin chấp thuận và biên tập, thậm chí chính đồng chí ấy còn tự tay bổ sung vào bản in thử của cuốn sách.

Trong cuốn sách ấy, Stalin coi điều gì là mấu chốt? Ðồng chí ấy có muốn giảm bớt nhiệt tình của những kẻ xu nịnh biên soạn cuốn Tóm lược tiểu sử ấy không? Hoàn toàn không! Stalin đã có những nhận xét ở chính các đoạn, mà theo đồng chí ấy, người ta khen ngợi chưa đầy đủ công trạng của mình.

Vài thí dụ sau đây có thể cho ta thấy tính chất của những phần "bổ khuyết" do Stalin tự tay viết:

Sau khi Lênin rời chiến trường, trong cuộc đấu tranh chống bọn nhu nhược và bọn đầu hàng, bọn trốt-kít và bè lũ Dinôviép, bọn Bukharin và bọn Kamênép, đã hình thành vĩnh viễn nhóm hạt nhân lãnh đạo đảng. Bảo vệ ngọn cờ vinh quang của Lênin, nhóm này đã đoàn kết đảng quanh di chúc của Lênin và dẫn dắt nhân dân Liên Xô trên con đường rộng mở của công nghiệp hóa và hợp tác hóa nông nghiệp. Ðồng chí Stalin là người lãnh đạo nhóm hạt nhân ấy, là động lực lãnh đạo đảng và nhà nước.

Chính Stalin đã tự mình viết ra những câu trên! Rồi đồng chí ấy còn chua thêm:

Stalin thực hiện một cách tài tình những nhiệm vụ của người lãnh đạo đảng và dân tộc và được sự ủng hộ toàn diện của nhân dân Liên Xô, tuy thế, đồng chí không hề cho phép mình kiêu ngạo, khoe khoang hay tán tụng cá nhân.

Ðã ở đâu và khi nào, người ta thấy một lãnh tụ tự tán tụng mình như thế chưa? Thử hỏi điều ấy có xứng đáng với một người lãnh đạo mác-xít - lê-nin-nít hay không? Không! Chính Mác và Ăngghen đã cương quyết chống lại việc đó. Lênin cũng luôn luôn lên án nghiêm khắc những hành động như thế.

Trong bản thảo cuốn Tóm lược tiểu sử nói trên, có một câu như sau: "Stalin là Lênin của thời đại ngày nay." Có điều Stalin thấy nhận định ấy còn quá nhẹ, vì vậy đồng chí ấy đã tự tay sửa lại: "Stalin là người kế tục xứng đáng sự nghiệp của Lênin, hoặc - như người ta thường nói trong đảng - Stalin là Lênin của thời đại ngày nay." Câu nói thật hay, nhưng không phải từ nhân dân mà tự Stalin đã nói ra.

Ta có thể đưa ra nhiều thí dụ do chính tay Stalin viết - nhằm tán dương mình - trong bản thảo cuốn Tóm lược tiểu sử đó. Stalin đặc biệt hào phóng khi tự tặng cho mình những lời khen ngợi về thiên tài quân sự, về tài năng cầm quân, v.v...

Tôi xin kể thêm một đoạn bổ sung do Stalin tự tay chêm vào về thiên tài quân sự của mình:

Ðồng chí Stalin tiếp tục phát triển khoa học quân sự xô-viết, vốn đứng hàng đầu. Ðồng chí Stalin đã thảo ra luận đề về những yếu tố thường xuyên quyết định vận mệnh chiến tranh và hàng loạt học thuyết khác: về sự phòng thủ tích cực và các quy luật của phản công và tấn công, về sự cộng tác giữa các binh chủng quân đội và kỹ thuật quân sự cạnh những điều kiện của chiến tranh đương đại, về vai trò của những đoàn chiến xa và phi cơ trong chiến tranh hiện đại, về vai trò của pháo binh - binh chủng hùng mạnh nhất của quân đội. Trong mỗi giai đoạn khác nhau của cuộc chiến, thiên tài Stalin luôn tìm ra những giải pháp đúng đắn, hoàn toàn căn cứ vào các đặc điểm của tình hình. (Phòng họp xôn xao)

Rồi Stalin tiếp tục:

Nghệ thuật cầm quân của Stalin đã được thể hiện trong phòng thủ cũng như tấn công... Bằng sự sáng suốt anh tài, đồng chí Stalin đã nhận biết và làm thất bại những kế hoạch của địch. Những trận giáp chiến - khi đồng chí Stalin điều khiển quân đội Liên Xô - là những bài học xuất chúng của nghệ thuật quân sự.

Stalin tự tâng bốc bản thân như một lãnh tụ quân sự. Và ai đã làm tất cả những việc này? Chính Stalin, không phải trên địa vị một thống soái mà như một tác giả kiêm chủ biên, như tác giả chính của cuốn tiểu sử đầy rẫy những lời ca tụng bản thân.

Thưa các đồng chí, những sự thật là như thế. Và tôi phải nói một cách chắc chắn rằng đó là những sự thật đáng hổ thẹn.

Và còn thêm một sự kiện nữa từ cuốn Tóm lược tiểu sử này. Như mọi người đều biết, cuốn Tóm tắt lịch sử đảng cộng sản (bônsêvích) Liên Xô đã được một ủy ban của Ban chấp hành trung ương thảo ra.(2)

Một nhóm tác giả đã được lựa chọn để viết cuốn sách này, họ cũng bị tác động của tệ sùng bái cá nhân. Sự kiện này được thể hiện trong đoạn sau đây của bản in thử của cuốn Tóm lược tiểu sử:

Một ủy ban của Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản (bônsêvích) Liên Xô - dưới sự lãnh đạo và tham gia tích cực nhất của cá nhân đồng chí Stalin - đã soạn thảo cuốn "Tóm tắt lịch sử đảng cộng sản (bônsêvích) Liên Xô".

Tuy vậy, nhận định trên vẫn không làm Stalin thỏa mãn. Nó được Stalin bổ sung như sau trong bản in cuối cùng của cuốn sách:

Năm 1938, cuốn "Tóm tắt lịch sử đảng cộng sản (bônsêvích) Liên Xô" được phát hành. Cuốn sách do đồng chí Stalin viết(3) và được ủy ban đặc biệt của Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản (bônsêvích) Liên Xô thông qua.

Thử hỏi ta còn có thể nói thêm được điều gì nữa? (Phòng họp ồn ào)

Như các đồng chí có thể thấy, một sự sửa đổi lạ lùng đã biến một công trình tập thể thành cuốn sách do Stalin viết. Thiết tưởng không cần phải nói là sự sửa đổi này đã diễn ra như thế nào và tại sao.

Muốn hay không, một câu hỏi được đặt ra: nếu quả thực Stalin là tác giả cuốn sách, tại sao phải tán tụng cá nhân Stalin đến thế, tại sao phải biến đổi toàn bộ giai đoạn lịch sử sau cách mạng tháng Mười của đảng cộng sản vinh quang của chúng ta thành sự nghiệp của riêng "thiên tài Stalin"?

Thử hỏi cuốn sách này có phản ánh một cách đúng đắn những cố gắng của đảng ta trong công cuộc biến đổi xã hội, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, công nhiệp hóa và công cộng hóa đất nước, cũng như những biện pháp khác do đảng chủ trương theo đúng con đường Lênin đã vạch ra? Cuốn sách này chủ yếu chỉ nói về Stalin, về những bài diễn văn, những bản báo cáo của đồng chí ấy. Không hề có một ngoại lệ, dù nhỏ mọn nhất: mọi sự việc đều gắn liền với tên tuổi Stalin.

Và khi bản thân Stalin tuyên bố chính mình đã viết cuốn Tóm tắt lịch sử đảng cộng sản (bônsêvích) Liên Xô, người ta không khỏi ngạc nhiên. Một người mác-xít - lê-nin-nít có thể đề cao cá nhân mình lên tận mây xanh như thế được không?

Hoặc chúng ta hãy xem xét những Giải thưởng Stalin. (Phòng họp xôn xao)

Ngay cả các Nga hoàng cũng chưa bao giờ lấy tên mình để đặt cho các giải thưởng như thế.

Stalin đã chọn, coi như hay nhất, một bản quốc thiều cho nhà nước Liên Xô, trong /1 không có một câu nào nói đến đảng cộng sản, ngược lại, có một đoạn vô song về Stalin như sau:

Và Stalin dạy dỗ chúng ta trung thành với nhân dân. Ðể trong công việc cũng như trong chiến trận, chúng ta thành người anh hùng.(4)

Trong những vần thơ này của bản quốc thiều, toàn thể sự nghiệp của đảng lê-nin-nít trên các lĩnh vực giáo dục, chỉ đạo và động viên đều thuộc về Stalin. Cố nhiên, điều này sai lạc hẳn với học thuyết Mác-Lênin, là sự coi thường và hạ thấp rõ rệt vai trò của đảng. Tôi xin thông báo với các đồng chí là Ðoàn Chủ tịch Ban chấp hành trung ương đã thông qua một nghị quyết về việc viết lời mới cho bản quốc thiều, phản ánh vai trò của nhân dân và của đảng. (Vỗ tay rầm rộ và kéo dài)

Phải chăng Stalin không hề biết gì về việc người ta đã lấy tên đồng chí ấy đặt cho nhiều nhà máy và thành phố lớn? Phải chăng Stalin không hề biết gì về việc người ta đã xây đắp trong toàn quốc những tượng đài Stalin - những đài kỷ niệm cho một người còn sống? Một điều ai cũng biết là chính Stalin - ngày 2-7-1951 - đã ký quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô về việc xây dựng bức tượng Stalin đồ sộ bên bờ kênh đào Vônga-Ðôn; ngày 4-9 cũng năm ấy, Stalin hạ lệnh nấu chảy 33 tấn đồng để xây dựng bức tượng kỳ vĩ đó. Ai có dịp đến thăm vùng Stalingrát, chắc chắn đều thấy pho tượng khổng lồ, dù nó được xây đắp ở một nơi không mấy ai qua lại. Những khoản tiền khổng lồ bị tiêu phí trong việc xây dựng đài kỷ niệm này trong khi dân chúng vùng đó - từ hồi chiến tranh - còn sống trong lều tranh vách đất(5). Các đồng chí hãy nghĩ xem, Stalin nói thật hay không khi đồng chí ấy viết trong cuốn tiểu sử của mình:

Ðồng chí không hề cho phép mình kiêu ngạo, khoe khoang hay tán tụng cá nhân mình.(6)

src
------

Chúng ta thường biết tới Stalin như người có công tiêu diệt Phát Xít Đức trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II:

Khi xem các tiểu thuyết, phim ảnh và những công trình "khoa học" về lịch sử của chúng ta, ta thấy Stalin có vai trò hầu như không thể tưởng tượng nổi trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Theo đó, Stalin đã tiên đoán tất cả. Quân đội Liên Xô theo kế hoạch chiến lược do Stalin định sẵn từ lâu, đã sử dụng chiến thuật "phòng ngự tác chiến" (nghĩa là chiến thuật cho phép lính Ðức tràn vào tận Moskva và Stalingrát). Áp dụng chiến thuật này, hình như chỉ nhờ thiên tài của Stalin, quân đội Liên Xô đã chuyển thế thủ thành thế công và đánh bại quân thù. Chiến thắng mang tầm quan trọng lịch sử do các lực lượng vũ trang xô-viết và do nhân dân Liên Xô anh dũng đạt được, đã bị coi là kết quả thiên tài quân sự của Stalin(1) trong những thứ sách vở, phim ảnh và các "công trình khoa học" như thế.

Vậy sự thật ra sao? Khrushốp cho biết:

Trong và sau cuộc chiến tranh, Stalin đã đưa ra ý kiến cho rằng thảm trạng mà nhân dân ta phải trải qua trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh là hậu quả cuộc tấn công "bất thình lình" của quân đội Ðức chống Liên Xô. Nhưng thưa các đồng chí, điều này hoàn toàn không đúng sự thật. Ngay khi Hítle nắm quyền chính ở Ðức, y đã tự đặt cho mình sứ mệnh thủ tiêu chủ nghĩa cộng sản. Bọn phát-xít đã tuyên bố một cách thẳng thừng về điều đó, không hề giấu giếm những ý đồ của chúng.

Ðể đạt được mục đích xâm lăng, chúng đã thiết lập đủ các loại hiệp ước và khối trục. Thí dụ: "trục" Berlin - Rôma - Tôkiô khét tiếng. Nhiều sự kiện xảy ra ở thời kỳ trước chiến tranh chứng tỏ Hítle chuẩn bị ráo riết cuộc tấn công chống nhà nước xô-viết và y đã tập trung những lực lượng quân sự lớn (trong đó có các quân đoàn thiết giáp) ở dọc biên giới Liên Xô.

Nhiều tài liệu mới công bố hiện nay cho thấy từ ngày 3-4-1941, Sớcsin (Churchill) - thông qua ông Cripps, đại sứ Anh ở Liên Xô - đã nhắc Stalin việc nước Ðức Quốc xã bắt đầu tổ chức lại quân lực nhằm mở cuộc tấn công Liên Xô. Dĩ nhiên, Sớcsin hành động như thế không phải vì ông ta có thiện cảm với nhân dân xô-viết. Những mục tiêu đế quốc của cá nhân Sớcsin đã dẫn dắt ông trong việc này: xô đẩy nước Ðức Quốc xã và Liên Xô vào cuộc chiến đẫm máu, từ đó củng cố cho địa vị đế quốc Anh.

Tuy vậy, Sớcsin kể lại trong hồi ký của mình là ông cố gắng "yêu cầu Stalin chú ý đến hiểm họa đang đe dọa"(2). Sớcsin nhấn mạnh điểm này trong các điện tín gửi ngày 18-4 và những ngày sau đó. Nhưng Stalin không hề để ý, thậm chí còn hạ lệnh cho mọi người đừng tin vào những thông tin kiểu ấy để tránh "gây ra những cuộc hành quân".

Chúng ta cần nhận định rằng những thông tin về việc nước Ðức đang chuẩn bị một cuộc tấn công vũ trang vào lãnh thổ Liên Xô, cũng đã được các nguồn tin quân sự và ngoại giao của chúng ta đưa ra. Nhưng như chúng ta thấy, ban lãnh đạo đã nhận được lệnh không được tin vào những tin đó. Cho nên, với một nỗi lo âu nhất định, các tin này chỉ được gửi đi cùng những nhận định rất dè dặt về tình thế lúc bấy giờ.

Chẳng hạn, trong báo cáo gửi từ Berlin ngày 6-5-1941, tùy viên quân sự Liên Xô, đại úy Vôrônxốp viết:

Một công dân Liên Xô tên là Bôde đã báo cho phó tùy viên phụ trách hải quân: như một sĩ quan Ðức - làm việc ở Tổng Hành dinh của Hítle - được biết, nước Ðức chuẩn bị tấn công Liên Xô vào ngày 14-5 từ hướng Phần Lan, các nước Bantơ và nước Lítva. Cùng một lúc, không quân Ðức sẽ tấn công ồ ạt Moskva và Lêningrát, và quân nhảy dù sẽ chiếm cứ các thành phố dọc biên giới...

Trong báo cáo ngày 22-5-1941, phó tùy viên quân sự ở Berlin, Khlôpốp thông báo:

Cuộc tấn công của quân đội Ðức đã được ấn định vào ngày 15-6, nhưng cũng có thể sẽ diễn ra trong những ngày đầu tháng Sáu.

Bức điện tín từ tòa đại sứ của ta ở Lônđơn gửi về ngày 18-6-1941, viết:

Cripps tin chắc rằng đụng độ vũ trang giữa Ðức và Liên Xô là không thể tránh khỏi, và cuộc chiến tranh này sẽ xảy ra chậm nhất là vào khoảng giữa tháng Sáu. Theo Cripps, quân Ðức hiện đang tập trung 147 sư đoàn (kể cả không quân và các lực lượng trợ ứng) dọc biên giới Liên Xô...

Phó mặc những lời nhắc nhở nghiêm trọng như thế, không có một biện pháp thiết yếu nào được đưa ra để nước ta có thể chuẩn bị một cách thích đáng công cuộc tự vệ và chống trả cuộc tấn công bất ngờ(3).

Chúng ta có đủ thì giờ và khả năng thực hiện công cuộc chuẩn bị này không? Tất nhiên, có! Chúng ta có thì giờ và đủ khả năng. Nền công nghiệp của chúng ta đã phát triển đến mức có thể cung cấp mọi nhu cầu cho quân lực Liên Xô. Ðiều này được chứng minh bởi thực tế sau: trong những năm đầu thời chiến tranh, mặc dầu chúng ta bị mất phân nửa nền công nghiệp cùng những vùng công nghiệp và nông nghiệp quan trọng ở Ukraina và phía Bắc Kápkadơ và những vùng miền Tây đất nước do sự chiếm đóng của quân thù, nhà nước xô-viết vẫn tổ chức được việc sản xuất quân nhu ở các vùng nông thôn phía Ðông, vẫn đưa vào hoạt động những thiết bị được chuyển từ các khu công nghiệp miền Tây và đã cung cấp cho quân đội mọi nhu cầu thiết yếu để tiêu diệt kẻ địch.

Nếu nền công nghiệp chúng ta được vận động kịp thời và đúng mức để cung cấp quân đội ta những khí cụ cần thiết thì các tổn thất của ta trong thời chiến hẳn đã giảm bớt rất nhiều. Nhưng cuộc vận động này không được thi hành đúng lúc. Ngay trong những ngày đầu chiến tranh, rõ ràng là quân lực ta được vũ trang tồi tệ, không đủ đại bác, chiến xa và phi cơ để đẩy lùi quân địch.

Ngay từ thời kỳ trước chiến tranh, nền khoa học và kỹ thuật Liên Xô đã phát triển các loại chiến xa và đạc bác tuyệt diệu. Có điều việc sản xuất hàng loạt những loại vũ khí này đã không được tổ chức kịp thời và trong thực tế, ta chỉ bắt đầu hiện đại hóa vũ khí trước ngày chiến tranh bùng nổ mà thôi. Thành thử, khi quân thù tấn công lãnh thổ xô-viết, chúng ta chẳng có những thiết bị cũ - không còn được sử dụng trong công nghiệp quân sự -, và cũng chưa có những thiết bị mới, khi ấy mới bắt đầu được chế tạo trong các xưởng khí cụ. Ðặc biệt, pháo binh của ta rất yếu; ta cũng chưa tổ chức sản xuất đạn dược chống xe bọc thép. Nhiều vùng chiến lược được phòng thủ kiên cố, nhưng rút cục không đương đầu nổi sức tấn công của quân thù vì những loại vũ khí cũ đã bị loại bỏ, nhưng vũ khí loại mới chưa được sản xuất.

Sự kiện này, đáng tiếc, không chỉ xảy ra với chiến xa, pháo binh và phi cơ. Ðầu cuộc chiến, ta còn không đủ cả súng trường để cung cấp cho số binh lính mới được điều động. Tôi còn nhớ trong những ngày đó, tôi đã gọi điện thoại từ Kiép cho đồng chí Malenkốp(4) và nói: "Nhiều chiến sĩ tình nguyện xin nhập ngũ và họ đòi cấp súng đạn. Yêu cầu gửi vũ khí cho chúng tôi."

Ðồng chí Malenkốp trả lời: "Chúng tôi không thể gửi vũ khí cho đồng chí được. Chúng tôi đã gửi tất cả súng trường cho Lêningrát. Các đồng chí phải tự vũ trang lấy." (Cả phòng họp xôn xao)

Tình trạng về vũ khí là như thế.

Liên quan đến vấn đề này, chúng ta không nên quên sự kiện sau đây. Ít lâu trước khi quân Hítle mở cuộc tấn công chống Liên Xô, đồng chí Kóocpônốp - thời ấy là Tư lệnh Quân sự Ðặc biệt Quân khu Kiép (sau này hy sinh ở trận tuyến) - báo cáo cho Stalin biết quân Ðức đang dừng chân ở bờ sông Bugơ và đang chuẩn bị lực lượng, chắc chắn chúng sẽ mở cuộc tấn công trong những ngày gần tới. Do đó, đồng chí đề nghị phải thiết lập một hệ thống phòng thủ lớn, di tản khoảng 800 ngàn dân sự khỏi các vùng giáp biên giới và xây dựng hàng loạt những đầu mối phòng ngự bằng cách thiết lập những công sự chống chiến xa, những chiến hào, v. v...

Moskva trả lời rằng những biện pháp như thế là một hành động khiêu khích, không nên khởi sự bất kỳ hành động phòng thủ gì dọc biên giới để quân Ðức mượn cớ mở cuộc hành quân chống lại ta. Do đó, các vùng biên giới của ta không được chuẩn bị đầy đủ để đẩy lùi cuộc tấn công của quân địch

Khi quân đội phát-xít thực sự xâm lấn lãnh thổ xô-viết và những cuộc hành quân của chúng đã khởi đầu, Moskva vẫn ra lệnh không được bắn trả những cuộc pháo kích của quân đội Ðức. Thử hỏi tại sao? Vì Stalin, mặc dầu sự việc đã rành rành, vẫn cứ tưởng chiến tranh chưa xảy ra, tất cả những điều này chỉ là hành động khiêu khích của vài đơn vị binh lính vô kỷ luật trong quân đội Ðức, đòn giáng trả của chúng ta sẽ là cái cớ cho người Ðức làm bùng nổ cuộc chiến.

Sự thật sau đây cũng được nhiều người biết đến. Ngay trước khi quân Ðức xâm chiếm lãnh thổ Liên Xô, một công dân Ðức đã vượt biên giới và cho biết quân Ðức được lệnh tấn công Liên Xô vào lúc 3 giờ sáng ngày 22-6. Tin này được thông báo ngay cho Stalin nhưng Stalin vẫn hoàn toàn bỏ qua.

Chúng ta có thể thấy Stalin đã khinh thường những lời nhắc nhở của một số lãnh đạo quân sự, những thông báo của lính Ðức đào ngũ và ngay cả những hành động thù địch lộ liễu. Thử hỏi đó có phải là tinh thần cảnh giác gương mẫu của một lãnh tụ đảng và nhà nước trong một khoảng khắc lịch sử nghiêm trọng như thế?

Thái độ thản nhiên, khinh thường những sự kiện rành rành ấy đã đem lại hậu quả ra sao? Kết quả là ngay trong những ngày giờ đầu cuộc chiến, ở các vùng biên giới, kẻ thù đã phá hủy phần lớn không quân, pháo binh và các trang bị quân sự khác của chúng ta. Chúng đã sát hại một phần đáng kể các cán bộ quân sự và phá hoại Bộ Tham mưu Quân sự của ta. Tất cả những điều này dẫn đến hậu quả là chúng ta không ngăn nổi quân thù tiến sâu vào nội địa đất nước.(5)

Những hậu quả rất đáng buồn, nhất là trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, xảy ra do việc Stalin - do bản tính đa nghi và dựa trên những lời buộc tội bịa đặt - đã thủ tiêu nhiều người trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo quân sự và chính trị vào thời kỳ 1937-1941. Trong những năm đó, các cuộc đàn áp đã triệt hạ những tầng lớp cán bộ quân sự nhất định: hầu như từ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng đến những lãnh đạo quân sự cấp cao nhất. Trong thời kỳ đó, các nhà lãnh đạo quân đội - từng kinh qua chiến trận ở Tây Ban Nha và Viễn Ðông - đã bị thủ tiêu gần hết.(6)

Những cuộc khủng bố trên diện rộng lớn đối với các cán bộ quân sự đã phá hủy kỷ luật quân sự, vì trong mấy năm liền, người ta đã gợi ý sĩ quan các cấp, thậm chí cả binh lính trong đảng và trong đoàn Thanh niên cộng sản (Komsomol), phải "vạch mặt" chỉ huy của họ như kẻ thù giấu mặt. (Phòng họp náo động).

Tất nhiên, chính sách này đã làm tan vỡ kỷ luật quân đội trong giai đoạn đầu của chiến tranh.

Và, cũng như các đồng chí đã biết, trước chiến tranh chúng ta có nhiều cán bộ quân sự lỗi lạc, họ là những người trung thành tận tụy với đảng và với Tổ quốc. Chỉ cần nói: những người sống sót qua những vụ tra tấn tàn bạo trong ngục tù đã tỏ ra là những người yêu nước chân chính và đã anh dũng chiến đấu cho vinh quang của tổ quốc, từ những ngày đầu của chiến tranh. Tôi muốn nói đến đồng chí Rôkôsốpsky(7) (như các đồng chí biết, đã bị giam cầm trong tù), đồng chí Gôrơbatốp, Marétskốp (là đại biểu ở Ðại hội này), đồng chí Pốtlát (một tư lệnh tuyệt vời đã bỏ mình nơi trận tuyến) và nhiều, rất nhiều đồng chí khác. Tuy nhiên, nhiều tướng lĩnh chỉ huy đã bị thiệt mạng trong các trại lao động khổ sai hoặc trong nhà tù, và quân đội ta không bao giờ gặp lại họ nữa.

Tình trạng ấy đã diễn ra vào đầu cuộc chiến và tạo nên mối hiểm họa lớn cho tổ quốc chúng ta.

Chúng ta không nên quên rằng sau những thất bại và những tổn thất khốc hại đầu tiên ở chiến trường, Stalin đã mất lòng tin và tưởng rằng nước ta đã lâm vào đường cùng.(8) Trong một bài diễn văn hồi đó, Stalin tuyên bố: "Chúng ta đã đánh mất vĩnh viễn tất cả những gì Lênin tạo ra".

Sau đó, trong một thời gian dài, trong thực tế Stalin không điều khiển các cuộc hành quân, nói chung đồng chí ấy không làm gì cả. Stalin chỉ nắm lại quyền chỉ huy quân sự sau khi một số ủy viên Bộ Chính trị tới gặp đồng chí ấy yêu cầu thi hành cấp tốc một số biện pháp để cải thiện tình hình ngoài trận tuyến. Như thế, mối nguy hiểm khôn lường đe dọa tổ quốc chúng ta trong thời kỳ đầu chiến tranh, phần lớn bởi Stalin đã thực hiện những phương pháp sai lầm trong việc lãnh đạo đảng và nhà nước.

Cố nhiên, chúng ta không thể chỉ nói đến những hoàn cảnh khi cuộc chiến tranh mới nổ ra, đã phá hủy trầm trọng quân đội và gây ra nhiều thiệt hại nặng nề cho chúng ta. Về sau này, sự mất bình tĩnh và chuyện Stalin can thiệp loạn xạ vào công việc chỉ đạo quân sự cũng làm quân đội ta bị thiệt hại nhiều.

Stalin hoàn toàn không hiểu những sự kiện diễn ra ở trận tuyến. Và cũng không thể ngạc nhiên về điều này, nếu chúng ta để ý là trong suốt thời kỳ chiến tranh vệ quốc, Stalin không hề đi kinh lý một trận tuyến nào, hay một thành phố nào vừa được giải phóng, ngoại trừ một cuộc thăm viếng đoạn đường ngắn trên quốc lộ Môgiaisk, khi tình thế đã ổn định trên trận tuyến. Nhiều tác phẩm văn học đã đề cập kỹ lưỡng về chuyến đi này, thêm thắt mọi thứ chuyện bịa đặt; đây cũng là đề tài cho lắm tác phẩm nghệ thuật tạo hình.

Cùng lúc đó, Stalin can thiệp vào việc thực hiện những cuộc hành quân, đưa ra các mệnh lệnh không căn cứ vào tình hình thực tế của trận tuyến, đem lại rất nhiều tổn thất có thể tránh khỏi cho quân đội ta.

Liên quan đến vấn đề này, tôi xin kể một trường hợp điển hình, chứng tỏ Stalin đã điều khiển những cuộc hành quân ngoài trận tuyến như thế nào. Tham dự Ðại hội hôm nay có nguyên soái Bagramian(9), chỉ huy các cuộc hành quân ở Tổng hành dinh mặt trận phía Tây Nam, và đồng chí có thể chứng thực những điều tôi sẽ nói sau đây.

Năm 1942, khi tình hình trở nên đặc biệt nghiêm trọng cho quân đội ta ở vùng Kháckốp, chúng tôi đã có quyết định đúng đắn: ngừng cuộc hành quân nhằm bao vây Kháckốp, tình thế thực tế hồi đó cho thấy tiếp tục chiến sự có thể gây tai hại thảm khốc cho quân đội ta. Chúng tôi đề xuất ý kiến này với Stalin, lập luận rằng tình hình hiện tại đòi hỏi phải xét lại kế hoạch hành quân, chớ để quân thù có khả năng phá hoại các cứ điểm quân đội của ta.

Trái với lý trí thông thường, Stalin bác bỏ đề nghị của chúng tôi và ra lệnh tiếp tục cuộc hành quân bao vây Kháckốp, mặc dầu lúc đó nhiều nơi tập trung quân đội ta đang bị đe dọa bao vây và tiêu diệt.

Tôi gọi điện thoại và đề nghị với đồng chí Vassilépsky(10) như sau: "Alếchsanđrơ Mikhailôvích (đồng chí Vassilépsky có mặt trong phòng họp này), đồng chí hãy cầm lấy bản đồ và chỉ cho đồng chí Stalin biết thực trạng tình hình."

Tôi lưu ý là Stalin bày kế hoạch hành binh trên bề mặt một quả địa cầu dùng cho học trò. (Phòng họp xôn xao)

Ðúng như vậy các đồng chí ạ, Stalin kiếm một quả địa cầu dùng cho học trò thông thường và theo dõi tình hình các mặt trận trên đó. Tôi nói với đồng chí Vassilépsky: "Ðồng chí hãy chỉ tình hình cho đồng chí Stalin trên một chiếc bản đồ; trong điều kiện hiện nay chúng ta không thể tiếp tục cuộc hành quân như dự định. Phải thay đổi quyết định cũ cho hợp với thời cuộc."

Vassilépsky trả lời vấn đề này đã được Stalin nghiên cứu và đồng chí không muốn thảo luận với Stalin nữa vì Stalin không muốn bàn cãi thêm nữa.

Sau khi nói chuyện với Vassilépsky, tôi gọi điện về nhà nghỉ Stalin. Nhưng Stalin không trả lời. Malenkốp đến nhấc điện thoại. Tôi nói với đồng chí Malenkốp là tôi gọi điện từ mặt trận và muốn nói chuyện trực tiếp với Stalin. Qua Malenkốp, Stalin bảo tôi hãy bàn bạc với với đồng chí Malenkốp. Lần thứ hai, tôi nhấn mạnh là tôi muốn báo cáo trực tiếp với Stalin về tình hình nguy cấp của chúng tôi ở mặt trận. Nhưng Stalin cho rằng không cần cầm lấy ống nghe và một lần nữa, Stalin cho biết tôi phải nói chuyện với đồng chí ấy thông qua Malenkốp, mặc dầu lúc đó Stalin chỉ đứng cách điện thoại có vài bước.

Sau khi đã "lắng nghe" đề nghị của tôi bằng cách ấy, Stalin trả lời: "Cứ để nguyên mọi thứ như cũ".

Và kết quả ra sao? Ðúng như chúng tôi dự tính. Quân Ðức đã bao vây các khu tập trung quân đội ta và chúng ta đã bị thiệt hại hàng trăm hàng ngàn quân lính. Thế đấy, một thí dụ về "thiên tài" quân sự của Stalin và nó đã mang lại hậu quả cho chúng ta như thế nào! (Cả phòng họp xôn xao)

Sau chiến tranh, một bận Stalin gặp gỡ các ủy viên Bộ Chính trị, Anastasi Ivanôvích Mikôian(11) có nhắc đến chuyện Khrushốp đã có lý khi đồng chí ấy gọi điện báo cáo về vấn đề hành quân vùng Kháckốp, và thật đáng tiếc ý kiến của Khrushốp đã không được chấp thuận.

Các đồng chí hãy tưởng tượng Stalin nổi khùng như thế nào! Làm sao có thể giả thiết là Stalin không có lý? Bởi Stalin là một "thiên tài", mà một "thiên tài" luôn luôn phải có lý! Bất kỳ ai đều có thể sai lầm, nhưng Stalin tự cho mình không bao giờ sai lầm, đồng chí ấy luôn luôn có lý. Stalin không bao giờ nhận mình sai, sai lớn hoặc sai nhỏ, mặc dầu đồng chí ấy đã mắc nhiều sai lầm cả trong những vấn đề lý thuyết cũng như về mặt thực hành. Sau khi Ðại hội bế mạc, chắc chắn chúng ta cần khảo sát lại nhiều cuộc hành quân và trình bày nó dưới ánh sáng thích hợp.

Các sách lược dính líu đến Stalin, người vốn không hề để tâm đến những điều căn bản của nghệ thuật lãnh đạo quân sự, đã làm chúng ta hao tổn nhiều xương máu, cho đến lúc chúng ta ngăn chặn được quân thù và chuyển sang phản công.

Các nhà quân sự đều biết ngay từ cuối năm 1941, đáng lý phải đẩy mạnh cuộc tổng hành quân đánh chặn ngang quân địch để tiến vào hậu tuyến của chúng, Stalin lại ra lệnh đánh trực diện để chiếm từ vùng này sang vùng nọ. Chiến thuật này gây cho chúng ta nhiều tổn hại nặng nề, cho đến khi các đại tướng của ta - hai vai mang mọi gánh nặng của chiến tranh - đã biến đổi tình hình và chuyển sang những cuộc hành quân mềm dẻo hơn, mang lại những thay đổi lớn tức thì, có lợi cho chúng ta.

Bởi vậy, thật là nhục nhã khi sau những chiến thắng lớn, phải trả bằng giá rất đắt, Stalin lại đặt dấu hỏi về công trạng của nhiều nhà chỉ huy quân sự, những người đã có công đánh bại quân thù; đồng chí ấy không thể nào coi những công lao ở mặt trận lại lại có thể do người khác làm nên.

Stalin rất muốn biết sự đánh giá của mọi người về đồng chí Giukốp(12), nhà lãnh đạo quân sự của ta. Nhiều lần đồng chí ấy hỏi ý kiến tôi về đồng chí Giukốp. Khi ấy tôi đáp: "Tôi biết Giukốp từ lâu. Ðồng chí là một vị tướng có tài năng và một lãnh đạo quân sự giỏi."

Sau chiến tranh, Stalin bắt đầu gieo rắc nhiều tiếng xấu về Giukốp, chẳng hạn: "Ðồng chí đã khen ngợi Giukốp, nhưng đồng chí ấy có gì đáng được khen ngợi đâu. Người ta kể, trước mỗi cuộc hành quân, đồng chí ấy vớ một nắm đất, đưa lên mũi ngửi rồi nói: "Chúng ta có thể tấn công" hoặc ngược lại: "Chưa thể thực hiện kế hoạch dự định!"

Hồi đó, tôi đã trả lời Stalin như sau: "Thưa đồng chí Stalin, tôi không biết ai đã bịa đặt điều đó, nhưng không phải là như thế."

Có thể chính Stalin đã bịa đặt ra những chuyện kiểu ấy để hạ thấp vai trò và tài năng quân sự của nguyên soái Giukốp.

Cùng lúc đó, Stalin rất sốt sắng tự tỏ ra mình là một tướng lĩnh giỏi; bằng những phương cách khác nhau, Stalin đã gieo rắc trong đầu óc quần chúng ý nghĩ rằng mọi chiến thắng của đất nước Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đều do lòng quả cảm, sự can đảm và thiên tài lỗi lạc của Stalin. Chẳng khác anh chàng Kryuchkốp(13) huyền thoại, chém một nhát kiếm chết bảy kẻ địch. (Phòng họp xôn xao)

Cũng trong phạm vi vấn đề này, chúng ta thử xem các phim ảnh lịch sử và quân sự và một vài tác phẩm văn học của chúng ta. Thật là chán ngấy: mục đích thực sự của chúng là tụng ca thiên tài quân sự của Stalin. Chúng ta hãy thử nhớ lại cuốn phim Berlin thất thủ(14). Trong đó, Stalin là nhân vật duy nhất hành động; đồng chí ấy ra lệnh trong một gian phòng có nhiều ghế bỏ trống, chỉ có một người đến gần Stalin và báo cáo gì đó. Người đó là Pôskrêbưshép(15), kẻ hầu cận trung thành của Stalin. (Tiếng cười trong phòng họp)

Còn ban chỉ đạo quân sự ở đâu? Bộ Chính trị ở đâu? Chính phủ ở đâu? Họ làm gì và đang bận việc gì? Cuốn phim không đả động tới. Stalin đã hành động thay tất cả mọi người, chẳng quan tâm đến ai, chẳng hỏi ý kiến ai. Trong cuốn phim này, mọi việc đã bị bịa đặt trước mắt nhân dân. Vì sao ư? Bởi, không thèm để tâm đến thực tế và sự thật lịch sử, người ta muốn trình bày Stalin trong vầng hào quang.

Một câu hỏi được đặt ra: những người lính vác trên hai vai mọi gánh nặng chiến tranh ở đâu? Họ hoàn toàn vắng mặt trong cuốn phim; Stalin không chừa cho họ một chỗ đứng nào.

Trong cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại, chiến thắng không phải là sản phẩm của Stalin, nó thuộc về toàn đảng, toàn chính phủ Liên Xô, thuộc về quân đội anh hùng, những tướng lĩnh tài ba và những người lính quả cảm, thuộc về toàn thể nhân dân Liên Xô. (Vỗ tay kéo dài)

Các ủy viên Ban chấp hành trung ương, các Dân ủy, các nhà lãnh đạo kinh tế, các đại diện xuất sắc của nền văn hóa xô-viết, những người đứng đầu tổ chức đảng và xô-viết địa phương, các kỹ sư và các chuyên viên - mỗi người trên cương vị của mình, đã mang hết sức lực và khả năng của mình để làm nên chiến thắng.

Hạt nhân của xã hội chúng ta đã tỏ ra anh dũng khác thường: giai cấp công nhân vinh quang, nông dân tập thể, giới trí thức Liên Xô - dưới sự lãnh đạo các tổ chức của đảng - đã vượt qua những khó khăn khôn lường của thời chiến và đã mang hết sức bình sinh bảo vệ tổ quốc.

Những phụ nữ xô-viết - nhận về mình gánh nặng của công tác sản xuất trong các nhà máy, các nông trang và các ngành kinh tế và văn hóa - cũng đã làm nên những chiến công hiển hách và vẻ vang. Nhiều phụ nữ đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến đấu ở tiền tuyến. Giới thanh niên chúng ta cũng đóng góp vô biên ngoài mặt trận cũng như ở hậu phương, trong công cuộc bảo vệ đất nước xô-viết và dẹp tan quân thù.

Những người lính xô-viết, những tướng lãnh và các chiến sĩ chính trị ở mọi cấp đã có những công lao bất diệt. Sau các thiệt hại đáng kể của quân đội ta trong những tháng đầu của cuộc chiến, họ vẫn bình tĩnh chỉnh đốn hàng ngũ trong quá trình chiến đấu, họ đã tạo ra và củng cố trong thời chiến một đạo quân hùng mạnh và chiến đấu anh dũng, chẳng những đã đẩy lùi kẻ thù hùng mạnh và xảo quyệt mà còn đập tan bọn chúng.

Những chiến tích tuyệt vời của hàng trăm triệu dân chúng ở miền Ðông và miền Tây trong cuộc đấu tranh chống họa nô lệ phát-xít sẽ còn sống mãi trong ký ức của nhân loại biết ơn, hàng thế kỷ, hàng thiên niên kỷ sau này. (Vỗ tay kéo dài)

Vai trò và công trạng chính của chiến thắng vĩ đại này thuộc về đảng cộng sản ta, thuộc về các lực lượng vũ trang xô-viết, thuộc về hàng chục triệu nhân dân Liên Xô do đảng đào tạo.
-------
Nikita Khrushchev, trong “Báo cáo mật ( http://www.talawas.org/talaDB/Lo%E1%BA%A1t%20b%C3%A0i:%20K%E1%BB%89%20ni%E1%BB%8 7m%2050%20n%C4%83m%20B%C3%A1o%20c%C3%A1o%20m%E1%BA %ADt )” đọc tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, gọi là “quỉ dữ” và tên tuổi bị xoá bỏ.

Stalin (1878–1953): Mặt trái chiếc huân chương

Stalin (1878–1953): Mặt trái chiếc huân chương

Stalin (1878–1953): Mặt trái chiếc huân chương

Nguyễn Minh Cần (Moskva)
Nguồn: www.thongluan.org

Chế độ phát-xít Đức là một con quái vật khủng khiếp của thế kỷ 20, đã gây ra cuộc thế chiến thứ hai, ngốn hàng chục triệu sinh mạng người vô tội, gieo rắc biết bao đau thương, tang tóc, điêu tàn cho các dân tộc hồi đầu thập niên 40. Nhờ sự chiến đấu của đồng minh các nước chống phát-xít, gồm có Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh, nên mới đánh bại hoàn toàn được quân phát-xít vào đầu tháng 5 năm 1945. Trong cuộc chiến thắng vĩ đại đó, Liên Xô đã góp phần quan trọng nhất và cũng là nước bị thiệt hại nặng nề nhất. Theo con số chính thức thì Liên Xô có 27 triệu người chết, trong số đó 11 triệu 300 ngàn người chết trên chiến trường, số thương binh là 18 triệu 400 ngàn người, khoảng 6 triệu người bị bắt làm tù binh (1).

Chiến thắng quân phát-xít Đức là một sự kiện lịch sử huy hoàng của thế kỷ 20. Nó đem lại hào quang rực rỡ cho Liên Xô. Nhưng, oái ăm thay! Chế độ cộng sản của Stalin cũng là một con quái vật khủng khiếp của thế kỷ 20, về bản chất nó không khác gì chế độ phát-xít của Hitler, nó cũng độc tài toàn trị và đẵm máu không kém gì. Trong hơn bảy thập niên tồn tại, chế độ cộng sản Liên Xô cũng đã ngốn đến 65 triệu sinh mạng người vô tội chủ yếu là dân nước mình (2).

Chính vì thế trong dịp kỷ niệm 50 năm Liên Xô thắng phát-xít Đức, khi xác nhận tầm quan trọng của chiến thắng, những người trung thực không thể không nghĩ tới tấn bi kịch khủng khiếp của các dân tộc và những con người bình thường, vô tội đã phải gánh chịu trong và sau chiến tranh. Có thể nói đó là mặt trái chiếc huân chương "Chiến Thắng".

Ở đây, tôi không nói đến những vụ thảm sát khủng khiếp hàng vạn sĩ quan và binh sĩ Ba Lan vô tội ở Katyn và Mednoe, mà chỉ nhắc đến những hành động diệt chủng đối với người dân của nước mình mà chế độ cộng sản Liên Xô đã thực thi trong thời gian cuối và sau chiến tranh. Bắt đầu từ cuối năm 1943, các nhà cầm quyền Liên Xô đã ra lệnh cho NKVD (3) xua đuổi trên hai triệu người thuộc các dân tộc Kalmykia, Karachaev, Chechnya, Ingush, Tatar Crimé, Balkaria, Bulgari, Grec (Hy Lạp), Turkia (Thổ), Kurd, Khemshil, v.v... khỏi quê hương, bản quán của mình để đi lưu đày đến các vùng xa xôi, hẻo lánh, như Sibiria, Altai, Omsk, Novosimbirsk, Trung Á, Kazakhstan... Đông nhất trong số đó là gần nửa triệu dân Chechnya và Ingush, trên 183 ngàn dân Tatar Crimé, trên 93 ngàn dân Kalmykia và trên 68 ngàn dân Karachaev. Ở đây chưa tính đến cộng đồng sắc dân Corea ở Viễán Đông bị lưu đày đến Trung Á.

Những dân tộc bị lưu đày đều không được báo trước để chuẩn bị, mà lệnh vừa đưa ra là bị lùa tất cả đi ngay, ai vớ được cái gì thì đem theo cái ấy. Mọi sự phản đối đều bị trấn áp ngay bằng súng đạn. Già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà bị lèn chặt trong toa hàng, xe vận tải hoặc xe ngựa. Trên đường đi, họ không được cung cấp gì về sinh hoạt, thuốc men, đến nơi đã định thì không có nhà lều gì hết, tất cả đều phải tự mình làm lấy, trước nhất là dựng lều tạm trú, rồi tự mình lo liệu mọi sư để ổn định cuộc sốngï. Chính vì thế có rất nhiều người, nhất là trẻ con và cụ già đã chết ngay trên đường đi và tại nơi mới đến. Có điều kỳ quái là bọn đao phủ chẳng cần quan tâm gì đến các binh sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận, chúng lùa đồng loạt cha mẹ, vợ con, anh chị em của họ đi đày cũng như mọi người khác. Thậm chí, những người có danh hiệu "Anh hùng Liên Xô" chúng cũng không tha, như L. Mandzhiev (người Kalmykia), B. Khechiev (anh này bị chết khi đi đày). Còn sau chiến tranh, Anh hùng Liên Xô Khansultan Dachiev, người Chechnya, thượng tá M. Visaitov trong bộ tư lệnh Tập đoàn quân Belarus, cũng là người Chechnya, đã bị bắt đi đày. Chính vì thế, các dân tộc căm hận cao độ cái chính sách lưu đày của chế độ cộng sản Liên Xô. Điều đó giải đáp cho chúng ta câu hỏi : tại sao đến bây giờ nhiều người dân Chechnya vẫn còn kiên cường chiến đấu chống lại quân Nga để bảo vệ quyền tự quyết cho dân tộc mình.

Sau chiến tranh, người dân Liên Xô chỉ mong mỏi được sống yên ổn, nhưng nào có yên đâu! Không cần nói đến chính sách trả thù, bắn giết hàng loạt những người đã cộng tác với địch trong thời kỳ chiến tranh bất kể tự nguyện hay là bị bắt buộc. Ngay đối với tất cả những người dân bình thường đã sống trong vùng bị địch chiếm đều nghiễm nhiên bị xếp vào loại công dân hạng... "đặc biệt". Mọi chính sách tuyển chọn nhân viên, tuyển sinh, v.v. đều có phân biệt, có kỳ thị rất rõ ràng. Thậm chi trong những bản mẫu khai lý lịch đều có mục "bản thân có sống trong vùng địch chiếm không?, những năm nào?, làm gì?", "cha mẹ, vợ con, họ hàng có ai sống trong vùng địch chiếm không?, những năm nào?, làm gì?", "có mồ mả ông bà, cha mẹ, họ hàng chôn trong vùng địch chiếm không?"... Mẫu lý lịch này cho đến những năm 1960, 1970 vẫn còn, và chính tôi cũng đã nhận một mẫu như vậy. Chắc các bạn có thể tưởng tượng là số dân đã từng sống trong vùng địch đông như thế nào? Con số đó lên đến hàng chục triệu người! Đó là dân nước Ukraina, nước Belarus, một bộ phận miền Tây nước Nga, vùng Caucasia và vài vùng mới thôn tính, như Moldavia, ba nước vùng Baltic. Tất cả đều bị kỳ thị suốt mấy chục năm ròng. Và cố nhiên, ở ba nước Baltic, người ta lại thi hành chính sách lưu đày đến vùng Sibiria xa xôi, như các dân tộc đã kể trên. Hồi những năm 1970, chúng tôi có những người bạn là dân Lithuania, họ kể cho nghe về những đợt lưu đày khủng khiếp của dân tộc họ đến Sibiria.

Cũng cần nói rõ việc lưu đày các dân tộc này khác với chính sách bắt vào các trại tập trung, nói đúng ra là trại tù: các dân tộc bị lưu đày tuy mất tự do thật, nhưng chưa chính thức bị coi là tù nhân, họ phải tự kiếm sống trong khuôn khổ vùng lưu đày. Còn những người ở trại tù đều bị coi là tù nhân, họ bị giam giữ, bị bắt làm việc và hàng ngày buộc phải thực hiện đủ định mức lao động, không thì bị cúp khẩu phần. Đây là nguồn nhân lực lớn không phải trả tiền mà chế độ cộng sản triệt để khai thác nhằm thực hiện những kế hoạch sản xuất của họ. Đến sau chiến tranh, do nhu cầu nhân lực cho công cuộc phục hồi kinh tế rất lớn, nên người ta càng đẩy mạnh việc bắt người vào trại tập trung. Diện người bị bắt càng mở rộng. Theo chính sách, những người tích cực hợp tác với địch thì bị bắn, những người hợp tác với địch thì đưa vào trại tù, nhưng người ta tống vào trại tù cả những người gọi là "không tích cực đấu tranh với địch" - một tiêu chuẩn cực kỳ mơ hồ ! Những sĩ quan và binh lính Hồng quân bị bắt làm tù binh Đức (4), những công nhân Liên Xô bị lùa sang Đức làm việc, những người dân Liên Xô có thái độ bất mãn, nói năng không thận trọng, bị quy là "phản động", "chống đối chính sách"... đều nhất loạt bị bắt vào trại tù. Ngoài ra còn có những người bị coi là "phần tử thù địch" ở các nước Baltic và các nước gọi là "dân chủ nhân dân", như Ba Lan, Đông Đức, Rumania, Hungary, Bulgaria...

Con số tù nhân trong các trại tù, mà nhà văn A. Solzhenitsyn gọi là "quần đảo Gulag", không bao giờ được Liên Xô công bố, nhưng theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì nhân số thường xuyên là 8 triệu người, cao nhất là 15 triệu. Theo báo cáo của chính phủ Anh ngày 15-8-1950 tại Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc, số tù nhân của Liên Xô là 10 triệu người. Chính vì số tù nhân đông đảo như thế nên đất nước Liên Xô đã được mệnh danh là "đế quốc trại tù”". Điều kiện sinh sống trong trại tù vô cùng tồi tệ, số tù nhân bị chết rất nhiều, số người ốm yếu cũng rất cao đến nỗi năm 1950, người ta ra lệnh bắn hàng loạt tù nhân ốm yếu với định mức là phải thanh toán 5% số tù để khỏi phải "nuôi báo cô" những người đau yếu!

Có một điều quái gở là sau chiến tranh, việc bắt bớ trong hàng ngũ cán bộ, sĩ quan... dưới thời Stalin đã xảy ra nhiều đến nỗi tất cả mọi người đều run sợ, sống hôm nay mà không biết số phận của mình ngày mai ra sao. Ông cụ thân sinh nhà tôi là một đại tá đã vào sinh ra tử ở mặt trận Leningrad, bị thương nặng, mất một lá phổi, teo một cánh tay, được tặng nhiều huân chương, đã kể lại cho tôi là cứ mỗi tối trước khi đi ngủ cụ xếp sẵn sàng đồ dùng vào chiếc va-li con để khi người ta đến bắt thì có thể đi ngay. Chỉ sau khi Stalin chết, cụ mới bỏ thói quen này. Và điều này chắc nhiều bạn Việt Nam cũng không được biết là ngay như nhà chế tạo tên lửa nổi tiếng Liên Xô S. Koroliov, mãi đến khi bắn tên lửa đầu tiên đi vào vũ trụ, vẫn còn ngồi trong trại tù ! Chỉ sau khi bắn thành công rồi ông mới được thả ra.

Cái giá xương máu trên chiến trường và mọi sự chết chóc, tù đày oan uổng của người dân, mọi đau thương của các dân tộc trong và sau chiến tranh to lớn biết dường nào! Nhưng có điều đáng buồn là chiến thắng thực tế đã không đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Và đại đa số các cựu chiến binh Liên Xô, tức là những người đã làm nên chiến thắng huy hoàng - có lẽ chỉ trừ một số tướng lĩnh cao cấp - giờ đây vẫn cảm thấy hụt hẫng, ngao ngán, chán nản: họ so sánh cuộc sống của họ và của dân chúng "đất nước chiến thắng" với cuộc sống bình thường của người dân các "nước bại trận" là Đức, Ý, Nhật - sao mà khác nhau một trời một vực ! Chính vì thế, trong những cuộc biểu tình hồi tháng 3 năm nay để chống chính sách của tổng thống V. Putin chuyển các khoản ưu đãi thành tiền cấp đã có không ít cựu chiến binh Liên Xô tham gia.

Nói đến Chiến thắng của Liên Xô, tưởng cũng nên nói qua một chút đến cái gọi là "Chiến thắng" của Hà Nội. Cũng là những bài bản cũ của Liên Xô được những người cộng sản Việt Nam lặp lại: chính sách kỳ thị, phân biệt đối xử với những người sống dưới chế độ "cũ", chính sách trả thù, chính sách trại tù với 300 ngàn sĩ quan, binh sĩ, viên chức, trí thức bị mệnh danh là "nguỵ", với hàng chục ngàn người bình thường, bị quy là "phản động", "gián điệp", "chống đối" mà thực ra họ chỉ có cái "tội" là đề nghị với đảng và chính phủ những ý kiến khác với ý kiến kẻ cầm quyền hay chỉ đòi kẻ cầm quyền thực thi những quyền tự do dân chủ đã ghi rõ ràng trong hiến pháp! Cho đến cả sự suy sụp kinh tế, hồi những năm 1970, 1980, cũng như tâm lý hụt hẫng, chán chường của dân chúng cũng không khác nhau! Nếu nói nghiêm túc thì cái khác biệt đáng kể là cuộc chiến tranh của Liên Xô chống phát-xít Đức là một cuộc chiến tranh chống kẻ xâm lược, còn cuộc chiến tranh Bắc-Nam vừa qua là một cuộc nội chiến mà những người lãnh đạo cộng sản đã lừa mị dân chúng để đưa quân vào đánh miền Nam. Đến khi thắng rồi thì nhiều người mới "vỡ mộng": hóa ra là người dân hy sinh xương máu đi đánh nhau với anh em ruột thịt trong nhà, và cuối cùng thì... chỉ để cho một số kẻ cầm quyền toạ hưởng!

Nhân dịp này, mọi người nên để một phút tưởng niệm những người bị ngã xuống cả ở hai phía, những oan hồn của các chế độ độc tài toàn trị, phát-xít cũng như cộng sản.

___________________
Ghi chú:
1. Tháng 3-1946, Stalin nói là 7 triệu người chết, tương đương với con số người chết của Đức. Năm 1956, Khrutchev nói là 20 triệu. Còn các số liệu này lấy từ Bách khoa toàn thư Nga.
2. Con số do chủ tịch Ủy ban xét lại các vụ án chính trị dưới thời xô-viết là A. Yakovliev công bố.
3. Bộ nội vụ, tức là bộ công an khét tiếng độc ác.
4. Theo điều lệnh, họ phải tự sát chứ không được để bắt làm tù binh.

Stalin (1878–1953)

-------------------------------
Dưới đây là một trích đoạn, thể hiện việc khủng bố trắng trợn của Stalin với người bất đồng chính kiến:Thu thập được nhiều số liệu chứng tỏ sự độc đoán trắng trợn đối với các cán bộ đảng, Ban chấp hành trung ương đã lập ra một ủy ban ‐ hoạt động dưới sự kiểm soát của Ðoàn Chủ tịch Ban chấp hành trung ương đảng ‐ nhằm nghiên cứu những nguyên nhân đã gây nên các vụ đàn áp hàng loạt đối với đa số thành viên chính thức và dự khuyết của Ban chấp hành trung ương do Ðại hội nghị lần thứ XVII bầu ra.Ủy ban này, trong quá trình tìm hiểu một số lớn tài liệu lưu trữ của Bộ Dân ủy Nội vụ (N.K.V.D.)(1) và các tư liệu khác, đã đi đến nhận định sau: trong nhiều trường hợp, các vụ án ngụy tạo được bày đặt để đàn áp các đảng viên cộng sản, những lời buộc tội giả trá được đặt ra, luật pháp xã hội chủ nghĩa bị xâm phạm trắng trợn, dẫn đến việc nhiều người vô tội bị sát hại. Rõ ràng là nhiều chiến sĩ của đảng, của xô‐viết, của các ngành kinh tế ‐ bị lên án là ʺkẻ thùʺ trong những năm 1937‐ 38(2) ‐ thực ra họ chưa bao giờ là kẻ thù, là gián điệp, là kẻ phá hoại v.v... mà luôn luôn là những người cộng sản chân chính. Nhưng họ đã bị vu khống và thường thường, vì không chịu nổi những đòn tra tấn dã man, họ đã tự gán cho mình (theo lệnh của lũ nhân viên điều tra man trá) những tội tày đình và vô lý nhất.Ủy ban đã đệ trình lên chủ tịch đoàn Ban chấp hành trung ương một tư liệu đồ sộ và có cơ sở về các vụ đàn áp đại quy mô đối với các đại biểu Ðại hội lần thứ XVII và các thành viên Ban chấp hành trung ương do đại hội đó bầu ra. Ðoàn chủ tịch Ban chấp hành trung ương đã nghiên cứu cặn kẽ tư liệu trên.Cuộc điều tra đã cho thấy 98 người trong số 139 ủy viên chính thức và dự khuyết của Ban chấp hành trung ương do Ðại hội thứ XVII bầu ra, nghĩa là 70 %, đã bị bắt bớ và bị xử bắn (phần đông vào những năm 1937‐38). (Cả phòng họp xôn xao công phẫn)Thử xem thành phần các đại biểu ở Ðại hội lần thứ XVII ra sao? Ta được biết 80% đại biểu có quyền biểu quyết ở Ðại hội thứ XVII đã gia nhập đảng trong những năm đảng còn ở trong vòng bí mật, trước cuộc cách mạng hoặc trong cuộc nội chiến, nghĩa là trước năm 1921. Về thành phần xã hội, đa số các đại biểu ở Ðại hội (60% số đại biểu có quyền bỏ phiếu) là công nhân.Chúng ta không thể tưởng tượng được một đại hội với thành phần như trên đã bầu ra một Ban chấp hành trung ương mà đa số thành viên là kẻ thù của đảng. Lý do độc nhất làm 70% ủy viên chính thức và dự khuyết của Ban chấp hành trung ương bị tố cáo là kẻ thù của đảng và nhân dân là ở chỗ các chiến sĩ cộng sản trung thực đã bị vu khống dựa trên những lời buộc tội bịa đặt, khiến pháp lý cách mạng bị vi phạm trầm trọng.Bên cạnh những ủy viên Ban chấp hành trung ương, đa số đại biểu Ðại hội lần thứ XVII của đảng cũng chịu số phận ấy. Trong số 1956 đại biểu đại biểu chính thức và dự thính, 1108 người (nghĩa là đại đa số đại biểu Ðại hội) bị bắt và bị kết án phản cách mạng. Ngay bản thân sự kiện này chứng tỏ tính phi lý, ngược đời, trái với lương tri của những lời buộc tội ʺphản cách mạngʺ gán cho đa số đại biểu Ðại hội lần thứ XVII. (Cả phòng nhôn nhao phẫn nộ)Chớ quên rằng Ðại hội lần thứ XVII được biết đến trong lịch sử như ʺđại hội của những người chiến thắngʺ. Các đại biểu trong Ðại hội này đã từng tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Số đông đã chịu đựng gian khổ và đã đấu tranh cho lợi ích của đảng trong những năm tiền cách mạng, trong vòng bí mật và trên các mặt trận thời cuộc nội chiến. Họ đã anh dũng chống lại kẻ thù và thường xuyên trực diện với cái chết. Làm sao chúng ta có thể tin được những người như thế lại là những kẻ giả dối và gia nhập phe thù địch của chủ nghĩa xã hội, ở thời kỳ mà bè phái Dinôviép, Trốtsky và bọn hữu khuynh đã bị thủ tiêu về mặt chính trị và ở thời kỳ mà nhiều công trình xây dựng xã hội chủ nghĩa đã được thực hiện.Ðó là hậu quả của việc Stalin lạm dụng quyền hành, dùng khủng bố hàng loạt đối với các cán bộ đảng.

----

Một trích đoạn khác:
==============
Một thí dụ của sự khiêu khích đê hèn, sự man trá bỉ ổi và sự vi phạm tội lỗi luật pháp cách mạng là trường hợp của đồng chí Âykhê(17), chiến sĩ của đảng từ năm 1905, cựu ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, một cán bộ xuất sắc của đảng và chính phủ Liên Xô. (Trong phòng, mọi người ngạc nhiên)Ðồng chí Âykhê bị bắt ngày 29‐4‐1938 trên cơ sở những tài liệu vu khống, không có lệnh bắt của công tố viên Liên Xô (lệnh bắt này chỉ có 15 tháng sau khi Âykhê bị bắt).Phiên tòa xét xử đồng chí Âykhê đã diễn ra với sự vi phạm trắng trợn nhất pháp chế xô‐viết, kèm theo những bịa đặt có chủ mưu.Bị tra tấn, Âykhê bắt buộc phải ký nhận một biên bản điều tra ʺthú tộiʺ được chuẩn bị từ trước, trong đó Âykhê và vài cán bộ đảng có uy tín khác bị buộc tội ʺhoạt động chống lại chính thể xôviếtʺ.Ngày 1‐10‐1939, Âykhê gửi cho Stalin lá đơn trong đó đồng chí ấy kiên quyết phủ nhận lời buộc tội và yêu cầu thẩm xét lại trường hợp của mình. Trong lá đơn, đồng chí Âykhê viết:Ðối với tôi, không gì đau đớn hơn là bị giam cầm trong ngục tù của nhà nước mà tôi đã luôn luôn đấu tranh để xây dựng nó. Lá đơn thứ hai của Âykhê gửi cho Stalin ngày 27‐10‐1939 cũng được lưu trữ, trong đó Âykhê đưa ra những bằng chứng và phủ nhận một cách rất xác đáng những lời buộc tội vu khống đồng chí.Âykhê chứng tỏ lời buộc tội mang tính khiêu khích này một phần là sản phẩm của bọn trốt‐kít thực thụ vì bọn ấy đã bị đồng chí bắt giam trên cương vị Bí thư thứ nhất thành ủy vùng Tây Sibia và do đó, chúng âm mưu báo thù đồng chí; phần kia do kết quả việc man trá tài liệu điều tra.Âykhê viết như sau trong lá đơn này:Ngày 25‐10 năm nay, vụ điều tra về trường hợp của tôi đã kết thúc. Tôi được biết nội dung những tài liệu điều tra. Nếu tôi chỉ làm một phần trăm những hành vi phạm pháp mà người ta buộc cho tôi, không bao giờ tôi dám gửi đến đồng chí lá đơn trước khi tôi chết. Nhưng tôi không hề phạm một tội gì trong tất cả những tội mà người ta gán cho tôi. Lương tâm tôi trong sạch, không hề gợn một vết nhơ. Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi nói dối đồng chí, và ngay cả bây giờ, khi tôi sắp sửa bước xuống mồ, tôi cũng không giấu giếm đồng chí một điều gì. Trường hợp của tôi là thí dụ điển hình của một cuộc khiêu khích, vu khống và vi phạm những điều căn bản nhất của pháp chế cách mạng.Những lời thú tội đã được ghi lại và làm nên ʺvụʺ của tôi chẳng những phi lý mà nó chứa đựng những điều vu khống đối với Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản (bônsêvích) Liên Xô, với Hội đồng Dân ủy, bởi những nghị quyết thực thụ của Ban chấp hành trung ương và của Hội đồng Dân ủy ‐ vốn không phải do tôi đề xướng, tôi không tham dự gì vào quá trình thảo luận ‐ đã được trình bày như hành động thù địch của các tổ chức phản cách mạng mà tôi là kẻ khởi xướng.Bây giờ tôi xin đề cập đến giai đoạn nhục nhã nhất của đời tôi: một tội lỗi nặng nề đối với đảng và đối với đồng chí mà quả thực tôi đã thực hiện. Ấy là lời thú tội của tôi về hoạt động phản cách mạng... Nhưng sự thật là như thế này: vì không chịu đựng nổi những sự hành hạ của Ushakốp và Nikôlaiép, nhất là Ushakốp biết tôi gãy xương sườn và chưa lành hẳn, hắn lợi dụng điều này trong quá trình thẩm cung, gây cho tôi những đau đớn khủng khiếp và cưỡng bức tôi phải tự lừa dối mình và tố cáo những kẻ khác (bằng lời thú tội của tôi).Phần lớn những lời thú tội của tôi là do Ushakốp ʺđề nghịʺ hoặc trắng trợn đọc cho tôi viết, phần kia là do tôi nhớ lại tập hồ sơ do Bộ Nội vụ (N.K.V.D.) vùng Tây Sibia thu thập và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về chúng. Mỗi lần trong truyền thuyết do Ushakốp bịa đặt và buộc tôi phải ký nhận, có những điều gì không khớp với nhau, thì người ta lại bắt tôi ký nhận một dị bản hoang đường khác và cứ thế tiếp diễn. Người ta cũng làm như thế đối với Rukhimôvích: thoạt tiên đồng chí ấy bị coi là thành viên của một mạng lưới trù bị, sau đó người ta gạch tên đồng chí ấy đi nhưng lại không hề nói cho tôi biết. Củng như trường hợp một người bị coi là người lãnh đạo mạng lưới trù bị, tuồng như do Bukharin thành lập năm 1935. Buổi đầu tôi phải ký nhận, tự xưng là người lãnh đạo nọ; sau đó người ta ra lệnh thay tên tôi bằng Mêgiơlaúc. Còn nhiều những thí dụ tương tự như vậy.Tôi yêu cầu đồng chí, tôi van xin đồng chí hãy xét lại trường hợp của tôi, không phải tôi mong muốn được tha thứ, mà để vạch mặt âm mưu khiêu khích hèn hạ này, nó như con rắn cuốn lấy nhiều người do sự yếu hèn của tôi và sự vu khống đầy tội lỗi của tôi. Tôi thề không bao giờ phản bội đồng chí. Tôi không bao giờ phản bội đảng. Tôi biết tôi sắp ra đi vì những vu cáo xảo quyệt, đê tiện chống tôi, do kẻ thù của đảng và nhân dân bày đặt ra. Một lá đơn quan trọng như thế thiết tưởng phải được Ban chấp hành trung ương biết đến và thế nào cũng phải được bàn bạc. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Lá đơn được chuyển đến tay Bêrya và đồng chí Âykhê ‐ ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị ‐ vẫn bị tiếp tục tra tấn tàn nhẫn. Phiên tòa xử đồng chí Âykhê diễn ra ngày 2‐2‐1940. Trước tòa, Âykhê không nhận một tội lỗi nào. Ðồng chí tuyên bố như sau:Trong tất cả cái gọi là ʺlời thú tộiʺ của tôi, không một từ nào là sự thật, không một chữ nào tự tay tôi viết ra, ngoại trừ chữ ký của tôi ở dưới tờ biên bản mà người ta đã dùng nhục hình để cưỡng bức tôi. Tên công an điều tra, là tên đã hành hạ tôi từ ngày tôi bị bắt, đã buộc tôi phải ʺthú nhậnʺ. Sau những lần bị tra tấn, tôi đã ký nhận tất cả những điều thô thiển này... Ðiều quan trọng là tôi phải tuyên bố trước tòa án, trước đảng và trước Stalin: tôi vô tội. Tôi không bao giờ chủ trương một âm mưu nào cả. Tôi sẽ chết với lòng tin tưởng ở chính sách đúng đắn của đảng, cũng như tôi đã tin tưởng trong suốt cuộc đời tôi. Âykhê bị hành quyết ngày 4‐2. (Phẫn nộ trong phòng)Hiện nay, chúng ta biết chính xác: vụ án Âykhê hoàn toàn bịa đặt, ngụy tạo. Ðồng chí đã được phục hồi sau khi mất.

đọc tiếp:
src
--------
Bệnh tự "bơm vá" cho mình và tệ sùng bái cá nhân

http://www.newsru.com/russia/06nov2005/poros.html

Thầy tu quốc doanh ôm

Thầy tu quốc doanh ôm


Chinh sách "trăm năm trồng người" của nhà nước Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam quả thật là ghê rợn. Người ta chỉ cần nhin những nghề mới lạ xuất hiện sau thời kỳ đổi mới là biết ngay hậu qủa của chinh sách đó đã tàn phá xã hội Việt Nam ra sao. Chỉ nội cai tiếng ÔM không thôi đã là nguyên nhân đưa đến biết bao nghề ÔM làm cho đất nước đảo điên va luân thường đạo lý bay xuống hố. Tuy nhiên sự hành nghề ÔM đó rất khác nhau vì nó tuy thuộc vào nấc thang xã hội. Nói nôm na cho dễ hình dung là có hai loại ÔM.

** Loại thứ nhất la xử dụng đồng tiền để ÔM. Đối với loại ôm thứ nhất nay, tục ngữ đã có câu "có tiền ôm tiên cũng được", từ tiên nâu á phiện cho đến tiên tóc trắng bạch phiến v.v... Còn như nếu muốn ôm tiên trần tục thi cứ áp dụng na ná nguyên tắc của Bác Đảng "tùy theo năng sức hưởng theo nhu cầu", có nghiã là tùy theo túi tiền và sở thich khách hàng có thể chọn nào là tiền bia ôm, cà phê ôm, tắm hơi ôm, hay ngủ trưa ôm v.v... Trong thương trường ôm loại 1, kẻ hốt bạc nhiều nhất la chủ nhân ông và thanh phần công an nhắm mắt làm ngơ để cho nghề ôm được trăm hoa đua nở khắp nơi. Còn những kẻ thiệt thòi trong những dịch vụ buôn bán này không ai khác hơn là khách làng chơi va những cô gái ôm sẽ cùng nhau chia sẻ những con vi khuẩn HIV. Với nghề om thuộc loại 1 chỉ có dân thường nhảy vào hanh nghề để phục vụ giới có tiền. Sự trăm hoa đua nở của những nghề trên hẳn sẽ làm soi mòn (lộ rõ bản chất) "đạo đức cách mạng xã hội chủ nghiã".


** Loại ÔM thứ 2 độc chiêu hơn dành cho thành phần lãnh đạo cao cấp độc quyền khai thác. Đó là nghề ÔM QUYỀN LỰC cho thật chặt để có thể ôm tối đa tài sản của quê hương dân tộc. Tai sản đến từ di sản của tổ tiên để lại, từ tai nguyên của đất nước, từ thuế của nhân dân va từ sức lao động đẫm mồ hôi nước mắt của đồng bào nghèo khổ.

Từ cái nghề ôm quyền lực đẻ ra biết bao nhiêu chuyện quái đản làm nước nhà điêu đứng suy vong. Chỉ nội chuyện muốn ôm chặt quyền lực, những kẻ lãnh đạo đó không ngần ngại thủ tiêu tất cả những nhân tài ái quốc hoặc những tiếng nói xây dựng nào có thể làm lung lay chiếc ghế quyền lực của họ. Kẻ có chức tước cang cao lại chỉ thich ôm những thứ thật nặng ký. Những Đồng, Lương, Khả, Phieu, Mạnh lén lút ôm di sản lịch sử của tổ tiên lẫn xương mau của những anh hung liệt sĩ để đem đi bán đứng cho đàn anh Trung Quốc. Do đó mới có "Công hàm Phạm Văn Đồng ky năm 1958 cam kết chuyển nhượng cac đảo Hoang Sa va Trưong Sa cho Trung Quốc, Hiệp Định Bien Giới Việt Trung ky năm 1999 để nhượng đất biên giới trong đó có Aỉ Nam Quan va thác Bản Giốc, cũng như Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ va Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá ký năm 2000 để bán nước biển Đông cho Trung Quốc" (vị trí chiến lược và có nhiều tài nguyên).

** Còn đối với thanh phần it quyền lực hơn thi họ lại ôm kiểu khác. Quan lớn nọ thich ôm sức lao động của dân nghèo để xuất cảng ra xứ ngoai làm lao nô cho chủ nhân ông ngoại quốc vắt làm nô lệ. Quan to khac ôm phụ nữ trẻ em đem bán lam nô lệ tinh dục. Quan vừa kia chỉ ôm tài nguyên của quốc gia như chặt rừng đem bán khiến cho môi sinh bị xáo trộn gây ra cảnh lụt lội mỗi năm khiến cho hàng trăm người chết nhà cửa ruộng vườn tan nát. Bà lớn khác thi chỉ mặn mòi ôm nhà, đất đai của nông dân nghèo để đem đi bán làm giàu. Tất cả những loại ôm đó đã biến đất nước Việt Nam thành một bãi rác tham nhũng khổng lồ nồng nặc hơi mùi cường hào ác bá reo rắc bao đau thương cho dân tình và làm cản trở bước tiến của quê hương dân tộc.


Tất cả những loại ôm kể trên đều đã bị nhân dân nhin rõ tận gốc. Duy chỉ có một loại nghề ôm khác siêu tinh vi đã được nhà nước bi mật khai thác triệt để từ gần 30 năm qua mà đại đa số quần chúng không hề hay biết chỉ vi thông tin bị bưng bit. Ngày hôm nay, nhờ vào phương tiện internet phá vỡ được sự bưng bit thông tin nên người dân Việt giờ mới khám phá ra ý đồ tham độc ẩn náu sau cai nghề bi hiểm chỉ dành cho con cháu bác đảng mà thôi. Đó là nghề "Thầy tu quốc doanh ôm".


Tại sao gọi đó là nghề thầy tu quốc doanh ?

Ở Việt Nam không phải ai muốn đi tu là đều được tự do làm chuyện đó. Thật vậy, điều 21-2 của chương III trong Pháp Lệnh Tin Ngưỡng Tôn Giáo vưa được đem ra thi hành ngày 15/11/2004, có ghi rằng "Người phụ trach cơ sở tôn giao khi nhận người vào tu có trách nhiệm đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tôn giáo . Để được Ủy Ban nhân dân cấp giấy cho đi tu thi môn sinh đó phải có thành tich đạo đức cách mạng hay phải mang nhãn hiệu made in Bac Đảng". Cũng vi thế mới có cái tên "thầy tu quốc doanh" để ám chỉ những kẻ nằm vùng tôn giáo đi tu theo chỉ thị của nhà nước.

Sự cản trở người dân thường đi tu hẳn phải có lý do. Chả cần nói ai cũng biết nhà nước muốn tiêu diệt tận gốc mọi tôn giáo ở Việt Nam và muốn giáo chủ Hồ Chi Minh giật chỗ đứng của Chúa Phật trong trai tim người dân Việt. Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, một mặt nhà nước phải tiêu diệt hay vô hiệu hóa những bậc chân tu hiện thời. Mặt khác phải tim cách thay vào đó một đội quân sư cha quốc doanh được đặt dưới sự chỉ đạo của nhà nước cs. Cũng vi thế mà điều 21-2 đã được chế ra để phục vụ cho mục tiêu vừa kể.

Thêm vao đó làm thầy tu quốc doanh là một cái nghề nhàn hạ ngồi mát ăn bát vàng. Khỏi cần đi lao động vi đã co qũy cúng dường nuôi mình. Nếu làm công tác giỏi lại còn được nhà nước tấn phong cho làm hòa thượng, được trụ tri một ngôi chùa to, thi còn gi sướng cho bằng trên cõi đời này !

Tại sao lại bảo la thầy tu quốc doanh ÔM ?

Thầy tu quốc doanh là con đẻ của nhà nước. Khi nhà nước muốn ôm cái gì của tôn giáo thì nhà nước chỉ cần xử dụng phương tiện sư quốc doanh là xong ngay. Mặt khác, chữ ôm ở đây co hai nghiã.
Nghiã bóng là nhà nước muốn ôm kịt tín ngưỡng cho nó tắt thở chết. Còn nghiã đen là ôm tiền cúng dường của tin đồ. Nhà nước biết người dân Việt Nam rất sùng tín, cúng dường rất nhiều tiền cho nên nhà nước cũng muốn ôm số tiền to lớn đó vào túi minh. Cũng vi thế mà nhà nước mới dựng lên thật nhiều chùa chiền nhà thờ cho có vẻ là có tự do tin ngưỡng ở bên ngoai, nhưng thực ra là để cho đạo quân sư cha quốc doanh thay mặt cho nhà nước ôm tiền cúng dường ở những nơi thờ phuợng mà thôi. Cho nên cái tên "thầy tu quốc doanh ôm" chả có sai một chút nào.

-- Kẻ Sĩ Bắc Ha ( ke_si_bac_ha@yahoo.com )
----

Một thi dụ điển hinh của người thành công trong nghề ?Thầy tu quốc doanh om? ma cả nước đều biết đến không ai khac hơn là hòa thượng Thich Thanh Tứ. Hoa Thượng Thich Thanh Tứ la một đặc công công an, kiêm thanh vien của Mặt Trận Tổ Quốc, đã được nhà nước cho khoát áo thầy tu va được phong lam hoa thượng. Ngoai bổn phận lũng loạn ton giao va thi hanh mọi mệnh lệnh của Mặt Trận Tổ Quốc lien quan đến việc xiết cổ ton giao, vai tro chinh của Hoa thượng Thich Thanh Tứ la cui đầu gật theo chỉ thị nha nước. Khi Bac Đảng hót có tự do tin ngưỡng Thich Thanh Tứ vỗ tay khen hay.

Chả cần nói đâu xa, thi dụ gần đay nhất qua cuộc phỏng vấn Hoa thượng Thich Thanh Tứ thực hiện bởi điện bao www.vov.org.vn ngay 10/11/2004 lien quan đến Phap Lệnh Tin Ngưỡng Ton Giao, hoa thượng Thich Thanh Tứ đã tuyên bố một câu xanh rờn làm mát long Phan Văn Khải: "Phap lệnh ra đời đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng tôn trọng va bảo đảm quyền tự do tin ngưỡng, tôn giáo của nhân dân va đã nhận được sự đồng thuận của các tổ chức và tin đồ tôn giáo..".

Trong khi tất cả những vị lãnh đạo tinh thần của những tôn giáo ở Việt Nam lên tiếng phản đối cho rằng Pháp lệnh này chỉ là 1 chiếc thòng lọng để nhà nước xử dụng xiết cổ tôn giáo bằng luật pháp do chinh kẻ gian chế ra, thi Hoa Thượng Thich Thanh Tứ lại đảm bảo là Phap lệnh "nhận được sự đồng thuận của caá tổ chức và tin đồ tôn giáo".

Hoa thượng co biết đi tu ma noi dối la một tội nặng hay khong? Sao Hoa Thượng khong noi sự thật la Phap lệnh nay đ? được sự đồng thuận của cac tổ chức ton giao quốc doanh do nha nước lập ra trong đo co Giao Hội Phật Giao Việt Nam do hoa thượng l?nh đạo va được đặt dưới sự chỉ đạo cuả nha. Nao đ? hết. Lời phat biểu "Phap lệnh ra đời đ? thể hiện r? quan điểm của Đảng ton trọng va bảo đảm quyền tự do tin ngưỡng, ton giao của nhan dan? chưa kịp nguội mui tuyen truyền thi vừa đung 12 hom sau, ngay 22/11/2004 nha nước ra lệnh cho 2 xe jeep va 101 xe moto cong an đi chặn xe chở Hoa Thượng Thich Quảng Độ va phai đoan tăng thống Giao Hội Phật Giao Việt Nam Thống Nhất khong cho phep ra Binh Định thăm vị l?nh đạo của Giao Hội Phật Giao Việt Nam Thống Nhất la Đại L?o Hoa thượng Thich Huyền Quang đang bị đau nặng. Với cach hanh xử man rợ cấm đoan người đi thăm một vị tu hanh bị bệnh nặng, Hoa Thượng Thich Thanh Tứ nghĩ sao về lời tan tụng của Hoa thượng khen ?Đảng ton trọng va bảo đảm quyền tự do tin ngưỡng, ton giao của nhan dan? ? Nao đ? hết, Hoa thượng phải trả lời với lương tam của Hoa thượng ra sao cho ổn khi Hoa thượng thừa biết rằng 40 điều trong phap lệnh đo cho phep Mặt Trận Tổ Quốc kiểm soat tất cả mọi sinh hoạt của ton giao từ bước đi đứng, cach giảng đạo của vị tu hanh cho đến nội dung kinh sach khiến ton giao hết đằng cọ cựa. Chưa kể đến chuyện Hoa Thượng Thich Huyền Quang vị l?nh đạo tinh thần của Giao Hội Phật Giao Việt Nam Thống Nhất, Hoa Thượng Thich Quảng Độ, linh mục Nguyễn Văn Ly, mục sư Nguyễn Hồng Quang v.v... đau co lam nen tội tinh gi khiến nha nước bỏ tu, quản chế họ từ hơn mấy chục năm qua ma khong thể đưa ra 1 chứng tich phạm phap du nhỏ nhoi.

Tự do tin ngưỡng chưa thấy đau ma người dan chỉ thấy nha nước tự do dung bạo lực va lạm dụng quyền lực qua mặt luật pháp để bỏ tu những vị tu hành vô tội. Một đứa trẻ len 10 cũng con biết việc lam mờ am của nha nước.Thế sao một nha sư gia tuổi đời tụng kinh như Hoa thượng lại nỡ long nao phản bội lời giạy của Phật về hua với những kẻ l?nh đạo đang manh tam tieu giệt ton giao bằng mọi thủ đọan đe hen nhất.

Từ gần nửa thế kỷ nay, chinh sách trăm năm trồng người của nhà nước Cộng Hoa Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam đã đao tạo ra biết bao nhieu loại người quái chiêu làm điêu đứng đất nước lẫn đảo điên xã hội. Con am mưu nao tham độc nhất tren cõi đời nay cho bằng y đồ trồng ngay những ong ?thầy tu quốc doanh? trụ tri những nơi thờ phượng để một mặt tieu diệt ton giao va mặt khac lợi dụng long tin ngưỡng của người dan ?om? cho bằng hết tiền cung dường của họ. Thế mới biết những chiếc áo tu hành ma nha nước khoac cho những ?thầy tu quốc doanh om? gian xảo va nhơ bẩn biết chừng nao!

Nguyễn Hải Trao

----
Nhiệm vụ của sư quốc doanh la bảo vệ đảng cộng sản Việt Nam, sư quốc doanh hay sư hổ mang như anh Thich Chi Quang la tụi cớm của TC2 no gai. Bọn sư hổ mang con được quyền kết hon với cac ba v?i nữa nen lam sư hổ mang quốc doanh la 1 việc cao đẹp của can ngố to?ng cục 2

----
TToa TTQuang la mot dai tuong phan gian VC ten that la Pham van Bong.Tu nam 1963 den 1975 ten su ho mang nay da to chuc tren 550 cuoc bieu tinh lon nho de chong cuoc chien tranh tu ve cua nhan dan mien Nam doi dau voi su xam lang cua bon CSBV ,thang qua bon chi diem cong ran can ga nha la bon MTGPMN. Nam 1965 bon Bac Viet giut giay cho bon cuong tin nay ,nham cat dut mien Trung.Chinh Tuong NNLoan da bat va giai ten nay voa Sai Gon.Tren phi co vi tuc gian su pha thoi cua mot nguoi goi la tu hanh nhu vay,tuong Loan da doi quang ten su nay khoi phi co.TT Quang da quy xuong lay xin tha chet,nen nho Tuong NNLoan la nguoi theo Phat Giao.Nghi chuyen doi thay ma nuc cuoi,ngay xua bieu tinh tu thieu hang loat ,ma bay gio chang thay ong thay chua nao tu thieu hang loat nhu vay de dau tranh voi su tham tan cua bon VC.

-- Lucius Nguyen (Lucius@hotmail.com), January 09, 2005.

Đọc bai của chu KSBH rồi bai của anh Tiền Phong va Lucius Nguyễn lam tui nhớ lại nhiều truyện cũ trong lịch sử chanh trị miền Nam he.
Cai vụ diễn hanh Phật Đản ở miền trung la do ten sư Hổ Mang Quốc Doanh Thich Tri Quang va đồng đảng dựt day, rồi thẩy lựu đạn giết cac phật tử đi diễn hanh. XIA tụi no hổng thich cha Ngo Đinh Cẩn va no đang theo r?i tụi Thoch Chi Quang 1 cac thầm kin. Sau nay Thich Chi Quang Bỏ Huế dzo Sai Gon ở chia Ngọc Xa Lợi đường Ba Huyện Thanh Quang cạng trưo8`ng nữ sinh ao tim Gia Long , Rồi Trốn dzo toa l?nh sự Mỹ ở 2 block away from chua Xa Lợi [ Abraham Lincole Library cạnh Marie Currie Sai Gon ] đo la mua he 1963.

Cộng Sản Bắc Việt đã thâm nhập vào miền Nam tư năm 1957, va tụi tập kết cũng đã trở về qua Ngả Lao, Cambodia, va Tầu Ngầm Trung Cộng dọc bờ biển Nam Việt Nam, tụi Tri QUang đã được Lệnh lam rối loạn trật tự trong cac thanh phố Huế, Đa Nẵng va Sai Gon dưới danh hiệu Phật Giao bị đan ap ở Huế [ Sic ].

Anh em nha Ngo đ? bỏ mất thời cơ tổ chức miền Nam chống cộng, họ đ? may moc triệt hạ cac đảng phai chanh trị miền Nam để củng cố địa vị va sai cac tướng Gốc Gac miền Trung [ tuớng cướp = 1 bọn Hạ Sĩ Quan được thăng chức khi Phap chuyển sang quan đội Quốc Gia vi Mỹ ap lực, rồi Nhu Diệm thăng cấp Thiếu Tướng, Trung Tướng năm 1957 để thưởng cong khong theo cha Nguyễn Văn Hinh lam đảo chanh cha Diệm, nếu Hinh thắng co lẽ miền Nam vẫn tồn tại ] Hinh va Đon tốt nghiệp trường V? Bị Phap Saint Cyre rất nổi tiếng va Hinh co nhiều kinh nghiệm về tổ chức hanh chanh cung tổ chức quan sư ]

Diệm Nhu co nhiều lỗi lầm la dựa theo thien chu"a giao lam chuẩn cung chỉ tin ở người miền Trung mới thanh cai hậu quả mất miền Nam từ trứng nước, XIA đ? theo r?i biết Nhu đ? gập Le Duẩn - Phạm Hung khu phước tuy, Hố bo 3 - 4 lần năm 1962 -1963 theo kiểu khong ăn thi dạp đổ của Nhu, Nhu muốn giao miền Nam cho HCM rồi tẩu tan đi Tay. Anh em nha Ngo đ? ăn cắp của co6ng va tước đoạt tai sản của cac nha giầu miền Nam rồi gửi sang Thụy Sĩ va tẩu tan trong giong ho.

Tụi XIA no biết no đ? lầm khi sai Chi Sĩ NGo Đinh Diệm 1 người quet dọn ở 1 chủng viện thien chua giao tại MIchigan, đo cũng la nguyen nhan mất miền Nam. Anh Em Nha Ngo rất bảo hoang hơn Vua để bảo vệ ChỨc Tổng Thống cho Diệm suốt đời, bọn Mỹ no hổng chịu a, no muốn miền Nam Dan chủ để chống cộng , nhưng anh em Nhu-Diệm đ? biến viện trợ mỹ lam của rieng va quan đội Rieng như LLĐB va dung toan người bất tai tham chinh, đến nỗo co cha con nha thầu khoa miền trung bạn học của Cậu Cẩn đi học Phap rớt khong co bằng về Việt Nam lam dan biểu va được cấp cai Nha Villa đường Yen Đổ sau thời Kỳ Mấy Cha Tướng Khong Quan đi chơi gai bi co Sau Leo bắt tại đay, Sau Leo chỉ đăn re thoi rồi thả khong lam hồ sơ đăng ky. Tướng Sau Leo la người Quốc Gia yeu nước, hay đăn re bọn Quang, Toan L?m .... bọn tướng quảng lạc tham nhũng, nen khi Thiệu lam TT tụi nay theo Thiệu ha . Kỳ co nhiều người liem chinh dup nhưng Kỳ khong co văn hoa va vo mưu nen để mất 1 dịp may củng cố lại miền Nam chốmg cộng va khi Mỹ rut sẽ co đủ phương tiện chống cộng [ rebiuild the Government infrastructure and Economy ] Sang TT Thiệu tham nũng đ? đi qua đa , mọi chức Tỉnh , Quận trưởng đều la mua quan ban chức. Quan Đội củng cố với cac Sĩ Quan yếu hen tham nhũng, bỏ mặc tụi Vẹm nằm vung no tung hoanh, tụi XIA cũng biết nen tụi lam projection về VN no advise la bỏ miền Nam sau khi bắt tay với Mao Sếnh Sang.

Lam sao QLVNCH hung mạnh tren giấy tờ co thể thắng khi TT Thiệu ủy nhiệm vụ chống cộng cho Mỹ???? Khong ăn được TT THiệu pha QLVNCH để trừ hậu họa đảo chanh nen mới co vụ Collpase in command and control structures của Bộ Tham Mưu. Thiệu va Tướng L?nh THam Nhũng như Toan, Minh, L?m, Ngo Dzu, Quang.....sẽ la 1 vết nhơ trong sử Việt Nam.

Tụi sư HỔ Mang do Chi Quang điều động sau khi anh Sau Leo tha chết cho vo Chua An Quang đ? mất nanh vuốt chỉ lam việc với phe thứ Ba va Big Minh thoị

Miền Nam đ? bỏ lỡ 3 cơ Hội chỉnh đốn để chống Cộng thời Nhu-Diệm, Thời Kỳ, Thời Thiệụ

Trong sach kinh thanh kẻ lười biếng khong lam ăn thi khong co cai ma ăn. Cac cụ VN co thực mới vực được đạo. Ong Cố vấn Vũ ngọc NHạ bị tinh bao VN bắt va Big Minh thả ra năm 1963 để lấy long Hoang Quyanh 1 ten cớm TC2 gai vao nha thờ thien chua giao.

-- (Sau Bi Da France@SaiGon.Net),

http://www.greenspun.com/bboard/q-and-a-fetch-msg.tcl?msg_id=00CfPw

Chính Sách Diệt Tôn Giáo Của Cs Từ Liên Xô Đến Việt Nam (i)

Chính Sách Diệt Tôn Giáo Của Cs Từ Liên Xô Đến Việt Nam (i)

Lời nói đầu: Hiện nay vấn đề đàn áp tôn giáo tại Việt nam là một đề tài được chú trọng trong và ngoài Việt Nam. Trong nước, các nhà lãnh đạo tôn giáo đã dám đối đầu với nhà cầm quyền. Ngoài nước, người Việt hải ngoại chưa bao giờ lại có những hoạt động sôi nổi như vậy trước hiện tượng bắt bớ các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo. Thế giới đã lên tiếng mạnh mẽ về những hành động đàn áp tôn giáo của nhà cầm quyền CS, như bắt giam linh mục Nguyễn Văn Lý, quản chế Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Cụ Lê Quang Liêm, tiếp tục giam lỏng Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Quảng Ngãi, sách nhiễu các tu sĩ, giáo dân, tín đồ các tôn giáo đang tranh đấu cho tự do tôn giáo, bao vây, kiểm soát các nhà thờ, chùa chiền, thánh thất v.v…

Trong lúc cao trào tranh đấu đòi tự do tôn giáo lên cao, chúng ta lại được nghe một vài lời tuyên bố hoặc hành động hoàn toàn đối nghịch với những gì đang thực tế xảy ra tại Việt nam đối với các tôn giáo.

Những gì đã và đang xảy ra cho các tôn giáo tại Việt nam kể từ khi CSVN nắm chính quyền tại miền Bắc, sau đó cả hai miền, đều là những sự lập đi lập lại, những bản sao chép chính sách đàn áp tôn giáo của Liên xô trước kia.

Để thấy rõ hơn về những phương thức, thủ đoạn mà Cộng sản thường dùng để đàn áp, khống chế và tiêu diệt tôn giáo, chúng tôi xin trình bày dưới đây tiết lộ của một người từng là nhân viên cao cấp của tình báo KGB Nga: Ông Mitrokhin, đào thoát tỵ nạn và hiện nay là một công dân Anh Quốc.

Một câu hỏi được đặt ra: Liên Xô, với quyền lực và sức mạnh vĩ đại từng làm cho Mỹ phải nể vì, vậy mà vẫn không thể tiêu diệt đựợc tôn giáo tại Nga, cuối cùng bị chính sức mạnh tôn giáo lật đổ, thì CSVN với tình hình kinh tế tài chánh suy sụp, trước những chống đối mãnh liệt của người Việt trong nước và hải ngoại, cũng như quốc tế, liệu có thể tiêu diệt hoặc khống chế được các tôn giáo tại Việt Nam hay không, và hậu quả cuối cùng sẽ như thế nào ?

***
Mác (Marx) từng khẳng định : "Tôn giáo là thuốc phiện của loài người". Nhưng trước những chống đối mạnh mẽ tư tưởng phản tôn giáo của ông, Mác lại tuyên bố nhẹ nhàng hơn nhằm vuốt ve tôn giáo, cho tôn giáo như là "tiếng thở dài của sinh vật bị áp bức, là trái tim của thế giới vô tâm nhất". Có lẽ chính Mác cũng biết rằng chống lại tôn giáo là việc không thể thực hiện được.

Vào đầu thế kỷ thứ 20, sau khi nước Nga bị đặt dưới dưới sự cai trị của chính quyền vô sản, Nga là nước đầu tiên trong lịch sử loài người đã tìm cách tiêu diệt tôn giáo, xóa bỏ ý niệm về "Thượng Đế". Bởi vậy, khi bàn về tôn giáo Lê nin đã nói như sau:

"Mỗi ý niệm về tôn giáo, về Thượng Đế, mỗi lời tán tỉnh với ý tưởng thượng đế, tất cả chỉ là những gì bỉ ổi, xấu xa nhất không thể diễn tả được, một thứ bỉ ổi xấu xa nguy hiểm nhất, một thứ bệnh truyền nhiễm kinh tởm nhất" (!). Để nhấn mạnh thêm tư tưởng chống tôn giáo của ông, Lê nin nói: "Hàng triệu hành động bẩn thỉu nhất, hành vi bạo tàn nhất, bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất vẫn không nguy hiểm bằng những ý niệm về thần linh, về thượng đế được bao che bằng cái áo lý tưởng khôn ngoan nhất" (Lê Nin Toàn Tập, tập 35, trang 89- 90; Bàn về Nước Nga trang 270-71.)

Đó là những nguyên lý, ngôn từ của các ông tổ chủ nghĩa Mác-xít, Lê Nin nít mà có một thời đã làm mưa làm gió trên nửa phần thế giới. Lê nin, và những người kế vị đã từng tìm mọi cách để cộng sản hóa toàn địa cầu, biến địa cầu thành một thế giới vô tâm, vô tín ngưỡng, vô tôn giáo..

Một điều nghịch lý là tuy CS chủ trương tiêu diệt tôn giáo nhưng họ thiết lập một hệ thống tôn giáo mới, tôn giáo cộng sản để khống chế loài người với các tín điều đấu tranh giai cấp, tiêu diệt hoàn toàn tự do của con người, biến con người thành những con vật chỉ biết cúi đầu khuât phục nhóm cầm quyền bằng bạo lực là đảng cộng sản độc tôn.

Cuộc đàn áp tôn giáo trên thế giới khởi đầu từ Liên Xô. Đảng cộng sản Nga đã áp dụng phương thức nào nhằm khống chế và tiêu diệt các tôn giáo, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu dưới đây qua tài liệu quan trọng được tiết lộ bởi một diệp viên cao cấp KGB, ông Mitrokhin, đã từng đào thoát tỵ nạn tại Anh vào năm 1992.

VÀI HÀNG VỀ MITROKHIN

Vasili Nikitich Mitrokhin sinh năm 1922 tại một vùng thuộc trung bộ nước Nga. Ông gia nhập ngành tình báo Liên xô năm 1948 với tư cách một sĩ quan tình báo Ngoại Giao, một ngành của cơ quan tình báo MGB, tiền thân của KGB. Thời gian 5 năm trường hoạt động tình báo của Mitrokhin cũng trùng hợp với cuộc khủng hoảng trầm trọng của ngành tình báo Liên Xô. Chính trường Liên Xô thật rối loạn trong không khí hoàn toàn hoang tưởng, nghi kỵ bao trùm khắp nơi vào lúc xế chiều của nhà độc tài Stalin. Ngành tình báo Liên Xô lúc ấy do Lavrenti Beria cầm đầu, mở chiến dịch bài Ti tô và bài Do Thái. Beria ra lệnh tìm kiếm và tổng tiêu diệt những âm mưu chống đối nhà nước Liên Xô với cái gọi là "Âm mưu của Titoism (chủ nghĩa Tito) và Zionist (chủ nghĩa Do Thái)". Thực ra đây chỉ là âm mưu giả do tình báo LX ngụy tạo. Qua chiến dịch này, nhiều nhà trí thức đã bị hàm oan. Trong hoàn cảnh này, Mitrokhin được lệnh điều tra một nhà báo tên Yuri Zhukhov của tờ Pravda tại Paris về cái gọi là "liên hệ với bọn Do Thái", chỉ vì ông có vợ người Do Thái. Trong lúc thi hành nhiệm vụ, Mitrokhin đã khám phá ra đây chỉ là âm mưu của KGB.

Một tuần lễ sau khi Stalin mất, chính Beria, Giám đốc KGB, đã công bố rằng các đối tượng trong chiến dịch nói trên chỉ là giả tưởng (!!!). Sau này Beria bị phe xét lại (4) bắt giam vì tội làm tay chân thuộc hạ cho nhà độc tài Stalin để ám hại những thành phần mà Stalin coi là nguy hiểm cho chế độ. Cuối cùng Beria bị xử bắn với tội danh giả khác "làm gián điệp cho tình báo Anh". Thực ra tội của Beiria đã quá lớn, giết quá nhiều người, kể cả hiếp dâm trẻ em, vị thành niên, nhưng vì sợ gây tai tiếng cho chế độ, nên chính quyền đã phải đổi ra tội danh khác.

Trong tình hình này, Mitrokhin được giao nhiệm vụ giữ văn khố của KGB, một công việc nhờ đó Mitrokhin đã khám phá được rất nhiều sự thật tàn bạo của chế độ CS tại Liên Xô, trong đó có âm mưu tiêu diệt và khống chế tôn giáo. Năm 1992, do sự móc nối của tình báo Anh, Mitrokhin đã đào thoát tỵ nạn và cung cấp cho tình báo Tây Phương những tài liệu quý giá.

GIAI ĐOẠN TIÊU DIỆT TÔN GIÁO : THỜI ĐẠI LENIN - STALIN

Ngày 20 tháng 1 năm 1918, chỉ một thời gian ngắn sau khi Lê Nin nắm chính quyền tại Nga, nhà nước CS đã ra sắc luật tước bỏ mọi quyền hành của các giáo hội, trong đó có quyền sở hữu tài sản tôn giáo. Giáo hội lớn nhất tại Nga là Chính Thống Giáo (Orthodox) chịu một sự thiệt hại lớn nhất.

Tuy nhiên trong vài năm đầu, chính quyền còn đang phải lo diệt trừ các thành phần "phản động" nên họ chưa thi hành triệt để sắc lệnh này. Hơn nữa, thế lực của các giáo hội còn rất mạnh trong xã hội Nga vào thời đó. Các tổ chức tôn giáo kịch liệt chống lại sắc lệnh. Tổng Giám Mục (TGM) Tikkon Chính Thống Giáo Nga cho rằng "đây là hành động công khai tiếp tay cho kẻ thù của Chúa Jesus" dù rằng Ngài đã không nêu đích danh nhà nước cộng sản là thủ phạm. Ngài đã trở thành cái gai cần phải nhổ đối với nhà nước vô sản.

Tháng hai năm 1922, sau khi đã loại bỏ các thành phần "phản cách mạng", nhà cầm quyền xô viết tịch thu toàn bộ tài sản của các giáo hội, kể cả những bảo vật được cất giữ trong các nhà thờ. Tổng Gíam Mục Tikkon không thể làm gì khác hơn đành phải nhượng bộ, nhưng Ngài cố vớt vát đưa ra điều kiện là tài sản tịch thu phải được dùng cứu trợ những người đang gặp nạn đói tại vùng Volga.

Đối với nhà cầm quyền cộng sản, đây là một đòi hỏi thật phi lý, vì chính quyền chuyên chính độc tài nào lại chịu nghe điều kiện của những người mà họ đã đặt ra ngoài vòng pháp luật. Và dĩ nhiên, nhà nước CS chẳng bao giờ chấp nhận đòi hỏi đó của TGM Tikkon.

Mặt khác, nhà cầm quyền đã ủng hộ nhóm tu sĩ vì sợ hãi phải hợp tác với chính quyền, hoặc những tu sĩ từng có cảm tình và ủng hộ cuộc "cách mạng" vô sản.

Song song với các cuộc bặt bớ, đàn áp các tu sĩ, nhà nước CS đã tịch thu các nhà thờ, các cơ sở tôn giáo. Các dấu hiệu tôn giáo hoàn toàn bị tháo gỡ, nơi thờ phượng được dùng làm kho chứa hàng, nhà chứa xe, rạp hát, và nhiều dịch vụ khác kể cả để chứa súc vật.

Chính Thống Giáo là tôn giáo lớn nhất và là một giáo hội tự trị ở Nga, hoàn toàn không lệ thuộc hoặc được tiếp trợ từ bên ngoài như giáo hội Công Giáo trực thuộc giáo hội La Mã. Cuộc đàn áp mãnh liệt Chính Thống Giáo tại Nga đã bị bưng bít hầu như thế giới hoàn toàn không biết, hoặc biết rất ít. Người theo Công giáo tại Nga không nhiều, hầu hết các tu sĩ Công Giáo không hợp tác với chính quyền cộng sản, nhiều người còn ngấm ngầm chống đối, tìm cách liên lạc bí mật với Vatican, nhưng dưới gọng kềm và bức màn sắt bao phủ trọn vẹn nước Nga, họ khó có thể làm đuợc gì.

Hậu quả TGM Tikkin bị mất chức và bị quản thúc tại gia. Những tu sĩ hợp tác với chính quyền đă thay thế và điều hành giáo hội và tự cho rằng họ chiếm đa số của giới tăng lữ và tu sĩ. Kể từ đó, Giáo Hội Chính Thống Nga được cải danh thành Giáo Hội Cải Cách, hoặc Giáo Hội Sinh Động (Living Church). Các tu sĩ được phép lập gia đình. Còn Giáo Hội Chính Thống hoàn toàn bị tan rã, sự thống nhất của Giáo Hội không còn, chính quyền tha hồ khống chế, điều khiển tôn giáo theo ý muốn của họ để xã hội Nga từ từ biến thành một xã hội vô tôn giáo.

Cũng cần nhấn mạnh ở đây là hầu hết các giáo sĩ đều không hưởng ứng hợp tác với nhà nước. Cũng vì vậy, họ đã bị bắt giam, bị xử tử, bị thủ tiêu, hoặc lưu đày ở vùng băng tuyết để chờ chết.. Hầu hết đã không còn sống sót để trở về.

TGM Tikkin cuối cùng được thả. Vẫn không khiếp sợ, Ngài liền lên án hiện tượng tan rã của Giáo Hội do nhà nước chủ trương. Nhiều tu sĩ trước đây hợp tác với chính quyền nay nghe lời TGM đã quay về với giáo hội nguyên thủy. TGM Tikkin qua đời năm 1925. Những người kế nghiệp Ngài lần lượt bị bắt.

Năm 1927, đứng trước sự áp bức gia tăng của chế độ Stalin, và trước cơ nguy giáo hội Chính Thống Giáo có thể hoàn toàn bị tiêu diệt, người kế nhiệm là TGM Sergius buộc lòng phải hứa trung thành với nhà nước cộng sản để tạm thời cứu nguy và chờ thời cơ.

Đây là giai đoạn cực kỳ tàn bạo nhằm trừ khử tôn giáo, thời kỳ tiêu diệt những thành phần cứng đầu trong các tôn giáo đối với nhà nước.

Sau hai thập niên khủng bố và đàn áp, toàn nước Nga chỉ còn sót lại khoảng vài trăm trong số hàng trăm ngàn nhà thờ trên toàn nước Nga trước đây. Những nhà thờ còn lại này được phép hoạt động vì phục tùng chính quyền, và đặt đưới sự kiểm soát của nhà nước cộng sản.

Bài học: Trong sự đàn áp dã man của các chế độ cộng sản, bất cứ sự chống đối nào cũng hoàn toàn bị tiêu diệt. Chủ trương tiêu diệt tôn giáo của cộng sản là triệt để, nhưng nó chỉ có triệt để khi nó hoàn toàn kiểm soát xã hội và không có sự can thiệp từ bên ngoài.

GIAI ĐOẠN PHỤC HỒI

(Thời kỳ mở cửa với thế giới bên ngoài)
Hiến pháp năm 1936 của nhà nước Cộng Sản Nga công nhận quyền tự do tôn giáo. Đây là một nhượng bộ lớn của chế độ Mác Xít tại Nga, nhưng quyền này hầu như không hiện thực. Mãi đến thế chiến thứ hai, do nhu cầu cần các giáo sĩ huy động nhân lực chống Phát Xít Đức xâm chiếm nước Nga, Stalin vuốt ve các giáo hội, cho phép tôn giáo hoạt động trở lại, tuy nhiên vẫn nằm trong vòng tay kiểm soát của nhà nước. Nhờ thế, giáo hội Chính Thống tại Nga không bị tiêu diệt và có cơ may phục hồi.

Sau thế chiến thứ hai, không tiêu diệt được tôn giáo, nhà nước Cộng Sản tìm cách khống chế các giáo hội. Để che mắt thế giới, Stalin vẫn để cho các giáo hội tại Moscow hoạt động. Các nhà thờ được mở cửa nhưng rất hạn chế, và hoàn toàn bị nhà nước khống chế và lèo lái để tiêu diệt những mầm mống chống đối qua các nhân viên mật vụ trà trộn trong hàng ngũ giáo sĩ, giáo dân.


GIAI ĐOẠN KHỐNG CHẾ

Năm 1944, nhà nước thành lập các Hội Đồng Tôn Giáo nhằm kiểm soát, khống chế các tôn giáo. Có hai Hội đồng, một nhằm khống chế Giáo Hội Chính Thống, một khống chế các giáo hội Công giáo, Tin Lành, Do Thái, Phật Giáo, Hồi Giáo v.v.. Tất cả đều được điều hành bởi cơ quan mật vụ NKVD (tiền thân của KGB).

Năm 1949, nhà nước Liên Xô thành lập Hội Đồng Hòa Bình Thế Giới (World Peace Council, viết tắt WCC), một tổ chức ngoại vi với mục đích yểm trợ và bảo vệ uy tín của Liên Xô trên thế giới. Cũng cần nhắc lại là sau thế chiến thứ hai, Liên Xô vì quá kiệt quệ buộc phải quan hệ với các đồng minh chống phát xít Đức trên thế giới để nhờ viện trợ tái thiết. Nhờ đó, vấn đề tôn giáo tại Nga không còn bị che giấu và bưng bít như trước đây.

Qua Hội Đồng này, những hành động đàn áp tôn giáo của Liên Xô được che giấu hoặc bênh vực qua những nghị quyết với lời lẽ không hề nhắc đến vấn đề tôn giáo tại Liên Bang Xô Viết. Cơ quan mật vụ Liên Xô trực tiếp điều khiển tổ chức Hòa Bình Thế Giới này qua các tu sĩ được nhà nước đào tạo, mua chuộc hoặc khống chế, đe dọa. TGM Aleksi thuộc tổng giáo phận Krutitsky, TGM Nilolai thuộc giáo hạt Kolomna là những thí dụ điển hình.

Alekksi từng tuyên bố vào năm 1955 : "Hội Thánh Chính Thống Giáo Nga hoàn toàn ủng hộ chính sách ngoại giao hòa bình của chính phủ chúng tôi, không phải vì những lời cáo buộc về đàn áp tôn giáo, mà vì chính sách của nhà nước Xô Viết phù hợp với ý niệm của Thiên Chúa mà giáo hội chúng tôi hàng rao giảng" (Meeson: Triết lý Chính Trị của Giáo Hội Chính Thống Nga thời kỳ Xô Viết, tr. 221).

Đến thời Krutchev, để ủng hộ cái gọi là "chính sách hòa bình" của Liên Xô, Hội Nghị Hòa Bình Thiên Chúa Giáo (Christian Peace Conference: CPC) được thành lập năm 1958 mà tổng hành dinh đóng tại Prague, thủ đô Tiệp Khắc, một nước chư hầu do Liên Xô dựng nên sau thế chiến thứ hai. Giáo Hội Chính Thống Nga đã được KGB sử dụng qua một số tu sĩ cao cấp để bênh vực những cuộc đàn áp các cuộc nổi dậy của dân tộc Tiệp Khắc và Hung Gia Lợi đòi độc lập và tự do. Hội Nghị lần thứ 2 năm 1960, các tu sĩ đại biểu Liên Xô (KGB trá hình) tuy số ít nhưng với sự lèo lái của KGB đã hoàn toàn khống chế hội nghị với những nghị quyết hoàn toàn có lợi cho Liên Xô. (Revesz: Hội Nghị Hòa Bình Thiên Chúa Giáo).

Năm 1961, dưới sự lãnh đạo ngấm ngầm của KGB, Giáo Hội Chính Thống Nga đã gia nhập tổ chức Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (World Council of Churches: WCC), một tổ chức có tầm ảnh hưởng lớn đến các vấn đề chính trị, tôn giáo, xã hội trên thế giới. Trong giai đoạn này, Krushchev mở chiến dịch đàn áp cực kỳ dã man các giáo hội trong nước, đóng cửa phần lớn các nhà thờ từng được tái hoạt động trước đây. Phân nửa đã bị cấm đoán vì không chịu hợp tác với nhà nước. Số còn lại đều bị KGB kiểm soát và khống chế chặt chẽ.

Vào năm 1961, một báo cáo của KGB về tình hình tôn giáo tại Nga được Mitrokhin tiết lộ sau này nội dung như sau:

"Có khoảng 600 người dự các lớp đào tạo giáo sĩ trong giáo phận Moscow và 5 chủng viện. Phải khai thác để đáp ứng nhu cầu của chúng ta. Chúng ta phải gài người của chúng ta vào hàng ngũ các chủng sinh này, để về sau họ sẽ gây ảnh hưởng lên các hoạt động của giáo hội Chính Thống Nga, họ sẽ là nhân viên của chúng ta để gây ảnh hưởng đến các tín đồ tôn giáo.."
.........
Năm 1962, Gribanov, Phụ Tá Giám Đốc của KGB báo báo rằng: "KGB đã thành công trong việc cho xâm nhập những điệp viên có khả năng và giá trị vào các chức vụ cao cấp của giáo hạt Moscow và các địa phận của Công Giáo, của giáo hội Armenian Gregorian". Ông ta tuyên bố: "Với những điệp viên này, chắc chắn chúng ta sẽ loại bỏ được bọn tu sĩ và giáo hội phản động ra khỏi chức vụ của họ".

Bởi thế, trong thành phần của các phái đoàn đi dự các hội nghị hòa bình, hội nghị tôn giáo quốc tế đều đựợc KGB tuyển chọn thật kỹ càng. Người ta không ngạc nhiên khi các tu sĩ của phái đoàn Liên Xô đều bác bỏ những lời kết án về đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền của CS tại Nga.


TU SĨ ĐIỆP VIÊN

Các "tu sĩ điệp viên" của KGB được lồng vào các phái đoàn ra hải ngoại mang những bí danh Altar, Svyatoslav, Adamant, Magister, Roshchin và Xemnogorsky. Có một lần phái đoàn các tu sĩ điệp viên của Nga đến Anh Quốc tham dự cuộc họp của Ban Trung Ương Nghị Hội Tôn Giáo Thế Giới (WCC). Họ đã thành công vô hiệu hóa những lời đả kích, chống đối chính sách đàn áp tôn giáo tại Liên Xô.

Trưởng phái đoàn là Tổng Giám Mục Chính Thống Giáo Nikodim, một điệp viên quan trọng mang bí danh ADAMANT. Việc đào tạo Nikodim trở thành người lãnh đạo cao cấp của giáo hội Chính Thống phục vụ cho nhà nước được KGB chuẩn bị và tuyển chọn rất kỹ. Do sự sắp xếp của KGB, năm 1960 Nikodim mới 31 tuổi đã được phong chức giám mục (GM), một gíám mục trẻ nhất từ trước đến nay. Chỉ một năm sau, ông ta được cất nhắc đặc trách ngoại vụ giáo phận Moscow. Năm 1964 được tấn phong Tổng Giám Mục Leningrad.

Trách nhiệm của Mikodin trong phái đoàn là kềm chế hội nghị Tôn Giáo Thế Giới (WCC) không để xảy ra những tư tưởng chống Liên Xô về vụ đàn áp nổi dậy ở Tiệp Khắc và các vụ đàn áp tôn giáo tại các nước CS Đông Âu.

Theo báo cáo của KGB, họ đã thành công gài điệp viên vào cơ quan đầu não của Hội Đồng Hòa Bình Thế Giới (WCC). Đó là điệp viên Kutznetsow, bí danh của Alexi Sergeyevich Buyevsky, một thư ký của Ban ngoại giao giáo phận Moscow dưới quyền của TGM Nikodim. Gia nhập Ban Ngoại Vụ năm 1946, Buyevsky từng tháp tùng phái đoàn tôn giáo ra hải ngoại, và là người từng gặp gỡ những nhân vật quan trọng của các tôn giáo nước ngoài tại Moscow. Trong những thập nhiên 70, 80, ông ta giữ vai trò tối quan trọng trong Uỷ Ban Trung Ương của tổ chức WCC, là người chủ động thảo ra các nghị quuyết của các hội nghị hòa bình thế giới.


Trong 130 thành viên của Ủy Ban Trung Ương/Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới, có 42 % từ các nước Tây Phương, 28 % của các nước Đông Âu, 30 % từ các nước thứ ba (hầu hết từ Phi Châu). Liên minh các đại biểu Đông Âu và Phi Châu đồng thanh kết án các đại biểu từ các nước tây phương là đại biểu cho "đế quốc thực dân".


SỰ THẬT ĐƯỢC PHƠI BÀY

Mục Sư Richard Halloway thuộc Giáo Hội Tân Giáo tại Ái Nhĩ Lan là một nhân chứng đã diễn tả ảnh hưởng của KGB trong các phong trào "hòa bình" và "tôn giáo" như sau:

"Tôi đã chứng kiến một điều lệ ngầm rằng các vấn đề của Liên Xô không được phơi bày ra. Tuy nhiên mọi người đều thừa biết Liên Xô là một nước vô địch về vi phạm nhân quyền và điều hiển nhiên là nó ít được trình bày ra. Tôi nghĩ rằng tình trạng này cần được chấm dứt. Liên Xô cần phải công khai thú nhận.....

"Vào cuối năm 1989, Ủy Ban Trung Ương của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới này, được điều khiển bởi các điệp viên KGB đội lốt tu sĩ đã chấp nhận thông qua nhiều nghị quyết và thông cáo phù hợp với chế độ chính trị của các nước Cộng Sản".

Dưới sự chỉ đạo của KGB, các thành viên giáo hội Chính Thống Nga đã từng tuyên bố rằng "giáo hội Chính Thống Giáo tại Nga có mọi quyền tự do tôn giáo".

Năm 1975, TGM Yuvenali của địa phận Krutitsky và GM Kolomne (thay thế TGM Nilkodim) thăm viếng Anh Quốc trong dịp tấn phong Bác Sĩ Donald Coggan làm giám mục Canterbury, đã công kích khuynh hướng của giáo hội Anh là "thiếu vô tư về tình hình giáo hội tại Nga". Y công kích đại học Keston, một trung tâm nghiên cứu thế giới về những cuộc đàn áp tôn giáo tại các nước cộng sản. Trung tâm này được điều hành bởi linh mục Michael Bourdaux, một nhân vật được CS coi như chống Liên Xô. Để đáp lại, BS Coggan mặc dù là một người rất nhã nhặn, đã cương quyết bênh vực cho lập trường trung lập của Đại Học Keston, khiến cho TGM Yuvenali (điệp viên KGB) tức giận.

Hai năm sau, BS Coggan trong cuộc viếng thăm Liên Xô đã làm cho chủ nhân phải tức tối khi Ngài không theo chương trình và lịch trình (trình diễn) được sắp đặt của nhà nước Liên Xô, bất ngờ đến thẳng ngục thất để thăm một Mục Sư Tin Lành đang bị Cộng sản giam giữ là Mục sư Georgivins.

Một trong những điệp viên KGB khác đội lốt tu sĩ là giáo sĩ Iosif Pustoutov, bí danh Yesaulenko, được KGB cài vào làm việc tại phòng ngoại giao của Giáo hội Chính Thống nhằm tuyên truyền và phản tuyên truyền các dư luận của phương Tây. Được thu nhận năm 1970 lúc mới 26 tuổi, Pustoutov đã theo phái đoàn tôn giáo Liên Xô đến các nước Hòa Lan, Tây Đức, Ý, Pháp.... Năm 1976, y được cử làm đại diện cho giáo phận Chính Thống Giáo Moscow trong bộ tham mưu của Hội Đồng Hòa Bình Thiên Chúa Giáo (Christian Peace Conference) đóng tại Prague, Tiệp Khắc.

Thật ra, hầu hết các tu sĩ thuộc giáo hội Chính Thống Giáo Nga đều lâm vào tình trạng "không thể nào làm khác hơn được". Họ phải chấp nhận những ép buộc đến từ Bộ Nội Vụ nhà nước Liên Xô. Cũng có nhiều tu sĩ âm thầm phản kháng, nổi nhất là linh mục Dimitri Dudko. Sau này, linh mục Dudko cho biết như sau: "Một trăm phần trăm các nhà tu hành đều bị buộc phải hợp tác với KGB trong mức độ nào đó, nếu không, họ sẽ bị tước hết moị quyền hành trong giáo hội".

Một số nhỏ chống đối khác đã thành công thoát khỏi sự hợp tác với KGB. Năm 1991, trước khi Liên Xô tan rã, viên phó giám đốc cuối cùng của cơ quan tình báo khét tiếng KGB tên là Anatoli Oleiniko trả lời trong một cuộc phỏng vấn cho biết có khoảng 15 đến 20 phần trăm tu sĩ từ chối làm việc cho KGB. Thiểu số tu sĩ can đảm đó dĩ nhiên đã bị KGB trả thù, hoặc bị kềm hãm không cho thăng chức trong giáo hội.

*
Tóm lại, cuộc đàn áp tôn giáo tại Nga trong thời kỳ Cộng sản thật khốc liệt, nhất là dưới thời Lê nin và Stalin. Nếu không có thế chiến thứ hai bùng nổ, có lẽ sẽ không còn bóng dáng các nhà thờ trên đất Nga. Tuy nhiên, dù bị đàn áp, nhưng với lòng dũng cảm và tôn thờ đứng tối cao, những vị tu sĩ và tín đồ các tôn giáo vẫn âm thầm chịu đựng. Cũng có nhiều người chấp nhận tù đày, kể cả hy sinh mạng sống của mình, chỉ mong sao phục hồi được quyền tự do tôn giáo cho mọi người.

Bài học: Bạo lực cho dù tàn ác và khốc liệt đến mấy đi nữa cũng không thể nào xóa bỏ được tôn giáo. Tôn giáo có thể tạm thời không còn hiện diện bên ngoài trong một giai đoạn nào đó, nhưng trong tâm hồn mỗi người và trong chiều sâu của xã hội tôn giáo vẫn không bao giờ mất. Hậu quả là : chế độ nào tìm cách đàn áp và tiêu diệt tôn giáo cuối cùng chế độ đó cũng sẽ bị tiêu diệt.

(Còn tiếp: đàn áp và tiêu diệt tôn giáo tại Việt Nam)
Hoàng Độ

Tài liệu tham khảo:
- The Sword and the Shield (The Mitrokhin Archive and the Secret History of the KGB): Christopher Andrew and Vasili Mitrokhin; Basic Books, 1999.
- Britannica Encyclopedia 1999.

http://vietbao.com/print.asp?nid=61611
----
Thầy tu quốc doanh ôm

------------------------
- Biên khảo
Trong phạm vi bài này, người viết không phân tích về những điều khoảng khắc khe mà bọn chóp bu Hà Nội đã tốn công điều nghiên để tìm cách tiêu diệt Tôn Giáo ...www.geocities.com/lamsonuk/AQ_Sulobich_trongphaplenhtongiao.htm
- Biên khảo
Là tại vì các chính phủ của những quốc gia đó không có ý định kiểm soát để tiêu diệt Tôn giáo là “tạo ra những tổ chức tôn giáo của chính phủ rồi bắt buộc ...www.geocities.com/lamsonuk/LT_Sudanaptongiao.htm
- LM. Chân Tín
... hét lớn: “Đồ giả dối, ăn cướp, đàn áp, 31 năm CS diệt tôn giáo. Tự do tôn giáo cái quái chi? Chính sách tôn giáo là tròng áp bức, là trò lường gạt”. ...www.danchu2006.com/PageHtm/ThanhVien/ChanTin.htm
- Que Me : Hanh dong cho Dan chu Viet Nam
Ông Ái tố cáo một Tài liệu Mật chỉ đạo đàn áp và hủy diệt tôn giáo tại Việt Nam nói chung, và nói riêng thì nhắm biến Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ...www.queme.net/vie/v-news_detail.php?numb=408
- Que Me : Hanh dong cho Dan chu Viet Nam
... lợi dụng tôn giáo" do Viện Khoa học Công an ở Hà Nội phát hành một triệu bản nhằm giáo dục công an và bộ đội phương cách đàn áp và tiêu diệt tôn giáo. ...www.queme.net/vie/v-news_detail.php?numb=461
- Tu Do Ton Giao Viet Nam
... như Giáo Hội muốn hay là những con người nội tuyến do Cộng Sản cắt đặt vào trong lòng Giáo Hội, để hoạt động phá hoại, tiêu diệt tôn giáo từ bên trong? ...www.tudotgvn.org/TinTuc/Nov02/AuChau01Nov02.html
- Vietnam Human Rights Network
Phạm Trần - Pháp lệnh Tôn giáo, Tín ngưỡng 2004 tồi tệ hơn Sắc lệnh 1955 Ngô Nhân Dụng - Cộng Sản đang diệt tôn giáo ở Việt Nam ...www.vietnamhumanrights.net/viet/Forum.htm
- Kh?ng ho?ng và nguyên nhân V? tính chính th?ng trong ch? d? Hà n?i ...
Riêng đối với Phật Giáo Hòa Hảo, Nhà nước cộng sản hà nội ban hành lệnh tiêu diệt tôn giáo nầy từ 5 đến 15 năm, kể từ năm 1979 . Đến năm 1999, vì không tiêu ...www.daivietquocdandang.com/khunghoangvanguyennhan.htm
- :: Hoa Hao ::
... diệt được tôn giáo hay ám hại được Ngài và cũng không có một chế độ độc tài, bạo ngược nào tồn tại mãi mãi để tiếp tục đàn áp hay tiêu diệt tôn giáo. ...hoahao.org/default.asp?catid=38&nid=7919
- Doi Thoai - Tu Do Dan Chu cho To Quoc Viet Nam
Chúng đang có âm mưu lâu dài TIÊU DIỆT TÔN GIÁO, KHÔNG KỂ HỢP PHÁP HAY KHÔNG HỢP PHÁP . Thưa Quý Vị, Hợp pháp với ai, và không thừa nhận với ai? ...www.doi-thoai.com/baimoi1105_078.html
- Linh Muc Nguyen Van Ly - Amnesty International's Prisoner of ...
... Phủ Huế vì ngài đã phổ biến 2 bài tham luận của Đức Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền lên án chủ trương tiêu diệt tôn giáo một cách tinh vi của ĐCSVN. ...ngothelinh.tripod.com/LM_NguyenVanLy.html
- Vietnam News Network
Staline, Mao và Hồ cổ võ tiêu diệt tôn giáo, tẩy Đạo ra khỏi thế sự và đề cao thuyết Mạc xít như một tôn giáo mới, một "tôn giáo thế tục, ...www.vnn-news.com/article.php3?id_article=382
- Vietnam News Network
Những hành xử phi nhân quyền, phi văn hóa trên đây đang phơi bày bộ mặt thật của một Nhà nước đàn áp nhân quyền và tiêu diệt tôn giáo theo chủ nghĩa Mác ...www.vnn-news.com/article.php3?id_article=1797
- LienDoanCongGiao.org
Bắc Ninh cũng là nơi mà nhà cầm quyền Cộng Sản đã dùng để thử nghiệm những sách lược diệt tôn giáo khốc liệt nhất từ năm 1945 và nhất là sau năm 1954. ...www.liendoanconggiao.org/news.asp?aid=259
- ykien - Phat Giao 18: Ông Võ Văn Ái lên tiếng tại LHQ về tình ...
Ông Võ Văn Ái trình bày về hiện trạng đàn áp các tôn giáo tại Việt Nam và phân tích chính sách tiêu diệt tôn giáo của nhà cầm quyền Cộng sản. ...www.ykien.net/phatgiao18.html
- ykien - : Tự Do Tôn Giáo - Tin Lành: Mục Lục
... 20.03.06: Thông Điệp Phước Lành (11): Mác–Lê Và Đảng Cộng Sản Việt Nam Chủ Trương Tiêu Diệt Tôn Giáo; 20.03.06: Thông Điệp Phước Lành (10): Đảng Cộng ...www.ykien.net/tl_tinlanh00.html
- Ban Cao Trang Cua Lien Hiep Quoc Ve Dan Ap Ton Giao Tai Viet Nam
Chính sách mới đối với tôn giáo trên mặt công khai đành bỏ rơi mục tiêu hủy diệt tôn giáo ; bao dung tôn giáo thể hiện qua việc cho tự do cúng kiến, ...www.vietnamhumanrights.net/Viet/documents/caotrang_LHQ1999.htm

--